Cuộc cách mạng “tự do” đang diễn ra hiện nay gắn liền với ý định phục thù xã hội, với ý đồ lấy lại những vị thế chủ chốt đã bị mất thông qua việc giảm vai trò của nhà nước, thu hẹp quy mô phân phối lại tài sản và thu nhập.

Trong những điều kiện đó, vị thế của lao động làm thuê đang yếu đi do tác động khách quan của sự gia tăng tình trạng thất nghiệp cơ cấu và gắn liền với áp lực này đối với tiền lương, với sự tồi tệ đi của các dịch vụ xã hội. Đồng thời khủng hoảng phong trào công đoàn truyền thống cũng đang diễn ra, còn những triển vọng xây dựng một cấu trúc mới hùng mạnh có khả năng liên kết mọi người và đề xuất những yêu cầu có tính chất xây dựng đang trở nên có vấn đề. Về nhiều mặt, điều này gắn liền với sự giảm sút vai trò điều tiết của nhà nước trong lĩnh vực lao động – xã hội.

Một trong những yếu tố quan trọng đó là mong muốn cải tổ tính chất của nhà nước, làm thế nào để nhà nước ngừng tham gia rộng rãi và tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội, hạn chế vai trò của mình bằng cách tham gia ít nhất. Nhiều mục tiêu trong số này đã được thực hiện. Ở Anh, từ những năm 1980, nhà nước đã nỗ lực để các nhà sản xuất chịu trách nhiệm nhiều hơn về quản lý và cấp kinh phí cho các khoản chi khác nhau: từ các khoản chi liên quan đến bệnh tật và sinh đẻ đến các khoản trợ cấp hưu trí và tín dụng thuế. Kết quả là các khoản chi xã hội trong cơ cấu chi cho lao động đã giảm đáng kể. Theo các đánh giá, năm 2000, trong cơ cấu chi cho lao động của chủ lao động, phần chi dành cho tiền lương và tiền công là 82% ở Anh, 72% ở Cộng hòa Liên bang Đức, dưới 70% ở Pháp, còn ở Anh số lao động được hưởng bảo hiểm y tế riêng lẻ tăng 7 – 8% vào cuối những năm 1990 và từ đó cho tới nay ít thay đổi. Tuy nhiên, phần lớn các khoản chi theo luật định, bảo hiểm riêng lẻ chủ yếu tập trung vào những người lao động có địa vị cao. Nói chung, chi tiêu xã hội chiếm tới 25 – 30% chi trả lương cho người lao động. Bằng cách này hay cách khác, trong điều kiện hiện nay, khi chính sách nhà nước định hướng dài hạn vào việc thắt lưng buộc bụng và được áp dụng trên toàn Liên minh châu Âu (không ngoại trừ các nước hàng đầu), vai trò của “tiền lương xã hội” ở đó đang thay đổi cơ bản.

Rõ ràng, các chương trình xã hội riêng lẻ đang được mở rộng tại Hoa Kỳ ở mức độ lớn nhất. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên nếu tính đến mô hình chính sách xã hội dựa trên hệ tư tưởng của chủ nghĩa tự do mà Hoa Kỳ luôn tự hào và tích cực phổ biến khắp thế giới. Trong hệ thống cảu Mỹ có rất nhiều yếu tố tích cực, nó đóng vai trò quan trọng với tính cách là nhân tố của phúc lợi. Tuy nhiên, mặc dù có những khoản chi lớn như vậy nhưng hệ thống y tế vẫn có không ít mặt tiêu cực do mức độ thương mại hóa cao và tiêu dùng quá mức, điều này thường không phù hợp với sự trợ giúp y tế có chất lượng. Người ta ước tính Mỹ có thể tiết kiệm 10 – 30% chi phí y tế nếu loại bỏ các đơn thuốc và phương pháp điều trị không cần thiết và tốn kém. Không có gì đáng ngạc nhiên khi theo các nghiên cứu xã hội học, đánh giá của công dân Mỹ là tốt. Trong khi đó, 52% không hài lòng với chất lượng dịch vụ, 25% cho rằng hệ thống hoạt động tốt và chỉ cần những thay đổi nhỏ, 40% ủng hộ những thay đổi căn bản, còn 29% coi việc cải tổ toàn diện hệ thống là cần thiết. Vấn đề chủ yếu là chi phí khám chữa bệnh cao (60% người được hỏi) cũng như phần lớn người dân bị tước bảo hiểm y tế, không được hưởng sự trợ giúp có chất lượng (30%). Thêm vào đó, chỉ 20% (ngược với 60%) đồng ý nâng bảng giá dịch vụ và tăng thuế nếu điều đó cần thiết cho việc tiến hành cải cách dịch vụ y tế. 32% cho rằng họ có thể nhận sự trợ giúp y tế tốt nhất ở Canada, 24% ở Anh, 22% ở Cộng hòa Liên bang Đức và Pháp, 19% ở Nhật Bản và 8% ở Mexico.

Do đó, nhiều chuyên gia cho rằng hệ thống hoạt động không hiệu quả lắm vì nó tạo ra hiệu quả quá nhỏ trên một đơn vị đầu tư và tiêu dùng quá nhiều nguồn lực. Điều này dẫn đến việc thông qua đạo luật theo sáng kiến của các nhà dân chủ nhằm đảm bảo quyền phổ biến về bảo hiểm y tế được nhà nước bảo đảm, một việc đã gây ra sự phản kháng gay gắt. Về nhiều mặt, chương trình xã hội mà B. Obama dùng để tranh cử và giành chiến thắng trong tranh cử xem ra có tính chất tuyên ngôn, dân túy và không thể thực hiện vì sự chia rẽ của xã hội Mỹ. Còn nếu xét theo những mục tiêu đã tuyên bố thì thoạt đầu B. Obama có ý định cải tổ nghiêm túc xã hội thông qua việc thực hiện các mục tiêu cao cả về đạo đức và xã hội, đi vào lịch sử Mỹ giống như là F.D. Roosevelt. Ý định này nói chung đã thành công, ông ta đã tạo được sự đoàn kết của xã hội và đồng thuận chính trị trong những điều kiện mà đất nước đang bị kìm kẹp bởi các vấn đề trong và ngoài nước phức tạp nhất.

Một trong những vấn đề xã hội nghiêm trọng của các nước phương Tây là thay đổi kết cấu dân số. Sự cân bằng giữa các thế hệ thay đổi. Ở các nước phát triển, tỷ lệ nhóm người già đang tăng lên do tuổi thọ tăng và tỉ lệ sinh giảm. Do đó dẫn đến tình trạng tăng tuyệt đối và tương đối số lượng người nghỉ hưu. Các cải cách trong lĩnh vực xã hội liên quan đến việc xem xét lại mô hình nghỉ hưu (độ tuổi hưu trí, các quyền khi hưu trí) vẫn chưa đem lại kết quả căn bản trong việc giải quyết vấn đề cân bằng tài chính. Nhưng có một điều là các cuộc cải cách đã giúp làm giảm phần nào áp lực của vấn đề này và ghìm chậm sự gia tăng chi tiêu xã hội. Hiệu quả của các cải cách trong lĩnh vực xã hội đầy vấn đề và chậm. Ở các nước Liên minh châu Âu người ta hiểu rất rõ vấn đề này, vì vậy mà các chương trình thích hợp luôn mang tính chất dài hạn. Những mục tiêu ngắn hạn nhất được xác định đến năm 2020, những mục tiêu trung hạn – đến năm 2030, một số mục tiêu – đến năm 2050. Trước đây người ta đã từng lo ngại rằng, các quá trình này có thể dẫn đến thiếu hụt nhân lực và điều này hiện đang xảy ra ở một số nước. Chẳng hạn, ở Cộng hòa Liên bang Đức năm 2007 thiếu 70 nghìn kỹ sư, nếu so sánh với năm trước đó thì con số này tăng đột biến. Biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề này là tuyển dụng các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao thuộc nhóm người lớn tuổi. Và các nhà kinh tế Đức xác nhận rằng, các công ty tư nhân bắt đầu tuyển dụng các kỹ sư ở độ tuổi trên 50.

Nhiều nước đã thông qua các đạo luật ngăn chặn phân biệt độ tuổi khi tuyển dụng người vào làm việc. Luật này đã được thông qua tại Hoa Kỳ vào năm 1967 nhằm tạo cơ hội ngang bằng cho những người trên 40 tuổi và những người trẻ tuổi. Ngoài ra, luật còn cấm ghi độ tuổi trong các thông báo tuyển dụng. Từ khi luật được bổ sung, những người sử dụng lao động bị cấm ép buộc người lao động nghỉ hưu với lý do tuổi tác trong phần lớn các lĩnh vực hoạt động. Cũng hành động theo hướng này, năm 2000 Liên minh châu Âu đã thông qua chỉ thị yêu cầu các nước cấm phân biệt đối xử trong lĩnh vực việc làm với nhiều lý do, kể cả tuổi tác. Những phương sách này phù hợp với chính sách nâng cao độ tuổi nghỉ hưu. Hơn nữa, theo một số nghiên cứu, 45 – 60% người được hỏi tại các nước châu Âu lớn nhất muốn kéo dài thời gian làm việc để được nhận mức lương hưu cao hơn (Cộng hòa Liên bang Đức – 25%) [ibidem]. Đồng thời, sự thật là họ bày tỏ mong muốn giảm lượng công việc – dựa trên quy tắc làm việc một phần thời gian. Những mong muốn chủ quan đó không phù hợp với điều kiện khách quan, tình hình thị trường lao động và chính sách của người sử dụng lao động. Nhân tố động lực không ổn định đang tác động nghiêm trọng đến phát triển xã hội. Ví dụ, từ cuối năm 2008, số chủ lao động thực hiện việc cắt giảm lương và ngày nghỉ phép ở Hoa Kỳ đã tăng lên đáng kể. Hơn nữa, tâm lý phản kháng đối với việc giảm lương đã yếu đi trong trường hợp sự tồn tại của doanh nghiệp bị nghi ngờ. Chẳng hạn như, vào tháng 1 năm 2009, công đoàn lái xe vận tải gồm 40 nghìn đoàn viên đã tán thành việc cắt giảm 10% lương. Không có gì ngạc nhiên khi thực tế giao việc cho những người cao tuổi có mong muốn được tiếp tục làm việc đã không được phổ biến rộng rãi ở các nước phát triển.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đoàn Tâm

Hiệu đính: Nguyễn Như Diệm

Nguồn: TN 2014 – 1 & 2

V.V. Ljublinskij là Tiến sĩ khoa học chính trị, Trưởng ban Viện Xã hội học, Viện Hàn lâm Khoa học Nga.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s