Những gợn mây đen đầu tiên xuất hiện nơi chân trời vào năm 2014, khi những mét khôi bêtông đầu tiên lẽ ra phải được đổ xuống cho nền móng của nhà máy. Vào tháng 1, chính phủ Việt Nam tuyên bố, việc xây dựng bị hoãn lại 4 năm do “đàm phán về tài chính và kỹ thuật bị kéo dài”. Trước đó, có tin Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) kêu gọi chuẩn bị kỹ lưỡng hơn cho dự án, và đến năm 2015, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã nêu ra thời điểm bắt đầu xây dựng là năm 2019.

Đầu năm 2016, một sự kiện rất không có lợi đó là Công ty cán thép Đài Loan Formosa tại Hà Tĩnh đã đổ ra biển chất thải độc hại dẫn đến hiện tượng cá chết hàng loạt. Nạn nhân là hơn 200.000 người tại 4 tỉnh – họ là ngư dân và người làm muối, giờ bị cấm sử dụng nguồn tài nguyên biển đã bị nhiễm độc. Đến đầu mùa Thu năm 2016 lại có tin đồn, các dự án nhà máy điện hạt nhân, cả với Nga và với Nhật Bản, đều có thể bị đóng băng hoặc bị hủy bỏ. Đến ngày 10/11, người đứng đầu tập đoàn điện lực Việt Nam tuyên bố, trong kế hoạch điện sửa đổi của đất nước đến năm 2030 không có dự án năng lượng nguyên tử và ngân sách không dự trù cho các dự án này. Ngày 22/11, Quốc hội Việt Nam bỏ phiếu thông qua đề nghị của chính phủ dừng phát triển các dự án năng lượng nguyên tử.

Nguyên nhân chính để bãi bỏ dự án là bối cảnh kinh tế đã thay đổi. Năm 2019, nhu cầu năng lượng của Việt Nam được dự báo tăng 17 – 20%/năm, còn dự báo cho giai đoạn 2016 – 2020 đã chỉ còn 11%; 2021 – 2030  là 7 – 8%. Thêm vào đó, giá dự án bị tăng gần 2 lần từ 9 lên 18 tỷ USD, mà theo một số thông tin của truyền thông của Việt Nam là lên đến 27 tỷ USD. Chi phí cho điện từ nhà máy nguyên tử cũng tăng ngoạn mục từ 4 – 5 cent/KWh lên 8 cent/KWh. Việc tăng chi phí này vô cùng bất lợi trong bối cảnh giá than và khí đốt giảm, cũng như cảnh báo mức tăng trần nợ quốc gia lên 65% GDP.

Chính quyền Việt Nam đã làm tất cả những gì có thể để chứng minh rằng không có động cơ cá nhân trong việc hủy bỏ dự án và họ không có nghi ngờ gì về chất lượng đề nghị của Nga và Nhật Bản. Một tuần trước khi Quốc hội bỏ phiếu, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã lần lượt gặp các đối tác Nga và Nhật Bản, và ngay sau khi chính thức hủy bỏ dự án nhà máy điện tại tỉnh Ninh Thuận, đại diện chính phủ, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng đã có bài phát biểu rất dài mang tính xoa dịu, trong đó bày tỏ tin tưởng vào công nghệ của Nga và Nhật Bản, và hứa sẽ không giảm tốc độ hợp tác.

Tuy nhiên, mức độ an toàn thực tế là một chuyện, ý kiến dân chúng là chuyện khác. Dù ở Việt Nam, Nga có tỷ lệ ủng hộ cao nhất theo đánh giá của Pew Global Attitudes, những bất cẩn trong bảo vệ môi trường có thể khiến chính phủ phải trả giá đắt, vì đây là một trong những đề tài được tất cả các tầng lớp xã hội quan tâm, tập hợp được cả những người theo chủ nghĩa dân tộc, môi trường, Công giáo và tầng lớp thị dân trung lưu…

Nước Nga sẽ làm gì?

Trạng thái bình yên bên ngoài xung quanh việc hủy bỏ dự án nhà máy điện hạt nhân không che giấu được sự bất bình của Nga về những công sức và tiền bạc mất đi. Hàng trăm sinh viên Việt Nam đã đến Nga học tập chuyên ngành nguyên tử, 150 thực tập sinh đang thực tập tại các nhà máy điện của Nga. Chắn chắn họ sẽ vẫn là các chuyên gia và có thể làm việc tại các nhà máy điện khác của đất nước, trong lĩnh vực y học hạt nhân và các lĩnh vực khác có sử dụng hạt nhân, tuy nhiên, cảm giác lợi ích bị bỏ phí vẫn còn đó.

Dự án Rosatom đã có thể trở thành lá cờ đầu trong hợp tác song phương – một ngành mới, công nghệ cao, lại là ngành đột phá đối với Việt Nam và toàn bộ Đông Nam Á. Ninh Thuận – 1 có thể thay thế cho dự án Vietsovpetro hoạt động từ những năm 1980. Giờ đây, hai bên sẽ phải tìm kiếm những dự án lớn khác, dù khó mà đạt quy mô và chất lượng như vậy.

Ngoài Việt Nam, Nga còn có thỏa thuận về hợp tác trong lĩnh vực nguyên tử hòa bình với 6 nước trong khu vực: Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Lào và Myanmar. Tuy nhiên, chưa một nước nào đề cập đến vấn đề xây nhà máy điện nguyên tử. Hẳn là giờ đây, hy vọng sẽ đặt vào Indonesia, nơi Rosatom đang vận hành lò phản ứng thử nghiệm công suất 10 MW, nhưng cũng là nơi chưa rõ ràng về ý kiến dư luận. Chính phủ còn phải thuyết phục người dân rằng có thể xây nhà máy nguyên tử an toàn trên quần đảo, nơi động đất, bão, cháy rừng và cả khủng bố không phải là hiếm gặp.

Nói cách khác, đối với chiến lược xuất khẩu nhà máy điện nguyên tử của Nga thì Việt Nam là mắt xích quan trọng. Dù Rosatom có uy tín toàn cầu về công nghệ cao và giá gói cổ phiếu khủng (trên 100 tỷ USD), nhà máy điện nguyên tử mới chỉ được xây dựng tại 3 nước – Ấn Độ, Trung Quốc và Belarus (dù các công việc chuẩn bị quy mô đang tiến hành tại Bangladesh và Phần Lan). Ở nghĩa rộng hơn, xây dựng nhà máy điện nguyên tử tại Đông Nam Á có thể trở thành công lao lớn đóng góp vào chiến lược hiện diện của Nga tại khu vực này, mà hiện nay thực sự đang thu hẹp ở lĩnh vực dầu khi và xuất khẩu vũ khí.

Câu chuyện dự án nhà máy điện nguyên tử bị hủy bỏ không phải nói về việc Nga mất mát những gì hay đã không triển khai được thành công dự án tại châu Á. Thậm chí ngược lại, đề nghị của Nga rất chất lượng, công nghệ và hợp thời, song đã không thành công do hoàn cảnh. Việc không có những dự án tương tự của Nga tại Đông Nam Á mới làm cho thiệt hại này trở nên rõ nét.

Đối với sự hiện diện dài hạn của Nga, quan trọng là phải tạo dựng được những liên hệ kinh doanh ở cấp doanh nghiệp vừa, tuy nhiên, chính các tập đoàn nhà nước lớn lại thường có khả năng nhờ sự ủng hộ chính trị mà mở đường tại thị trường phức tạp và chưa được khai thác của châu Á. Tiếc là tại Việt Nam, Rosatom đã không làm được người mở đường như vậy.

Nguồn: carnegie.ru – 11/04/2017

TKNB – 21/04/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s