Lắng nghe chó sủa

Hầu hết các chính phủ của các quốc gia đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây có lẽ sẵn sàng công nhận rằng, việc các khu vực ngoài pháp luật của họ đang tăng nhanh theo hàm số mũ không phải bởi vì người dân dột nhiên từ bỏ sự tôn trọng của họ với luật pháp, mà bởi vì họ không có lựa chọn khả dĩ nào khác để bảo vệ quyền sở hữu và để kiếm sống. Một khi các chính phủ đã chịu chấp nhận sự thực này của cuộc sống hiện đại, họ sẽ phải đi đến thỏa thuận. Mặc dù những người ngoài pháp luật sẵn sàng đi qua cầu để sang với sự công nhận pháp lý, nhưng họ sẽ chỉ làm vậy nếu chính phủ của họ làm cho chuyến đi được dễ dàng, an toàn, và rẻ tiền. Những người chủ tài sản trong khu vực ngoài pháp luật đã được tổ chức tương đối tốt rồi; họ cũng là những người “tuân theo luật”, mặc dù các luật mà họ tuân theo không phải là luật của chính phủ. Việc tìm ra những thỏa thuận ngoài pháp luật này là gì và sau đó tìm cách tích hợp chúng vào hệ thống quyền sở hữu chính thức là tùy thuộc vào chính phủ. Nhưng họ sẽ không có khả năng làm điều đó bằng cách thuê các luật sư ở các văn phòng cao ngất ở Delhi, Jarkarta, hoặc Moscow để thảo các luật mới. Họ phải đi ra phố, ra đường và lắng nghe chó sủa.

Luật thịnh hành ngày nay ở phương Tây đã không đến từ các bộ sách phủ đầy bụi hoặc từ các sách luật chính thức của chính phủ. Nó là một thực thể sống, được sinh ra trong thế giới thực và được nuôi dưỡng bởi người dân bình thường khá lâu trước khi nó rơi vào tay của các luật sự chuyên nghiệp. Luật phải được khám phá ra trước khi nó có thể được hệ thống hóa. Như nhà luật học Bruno Leoni nhắc nhở chúng ta:

Những người La Mã và người Anh đã đồng ý rằng, luật là cái gì đó phải được phát hiện ra hơn là phải được ban hành và chẳng ai có uy quyền trong xã hội đến mức có thể đồng nhất hóa ý chí riêng mình với luật của đất nước. Ở hai nước này, nhiệm vụ “phát hiện ra” luật đã được giao phó lần lượt cho tư vấn luật và cho các thẩm phán – hai loại người có thể so sánh, ít nhất ở một mức độ nào đấy, với các chuyên gia khoa học ngày nay.

“Phát hiện ra luật” chính xác là việc mà các đồng nghiệp của tôi và tôi đã làm ở nhiều nước khác nhau trong suốt 15 năm qua, như một bước đầu tiên để giúp các chính phủ ở các nước đang phát triển xây dựng các hệ thống quyền sở hữu chính thức bao quát mọi người dân của họ. Khi bạn dẹp sang một bên các hình mẫu do Hollywood tạo ra về những người thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây giống như hỗn hợp sặc sỡ của những người bán hàng rong, các du kích quân có ria mép rậm rì, và bọn gangster gốc Slave, bạn sẽ thấy có ít sự khác  biệt giữa các nền văn hóa phương Tây so với các nơi khác về khía cạnh bảo vệ tài sản và tiến hành kinh doanh. Sau hàng năm nghiên cứu ở nhiều nước, tôi tin chắc rằng, hầu hết các khế ước xã hội về quyền sở hữu căn bản là giống các khế ước xã hội quốc gia ở các nước phương Tây. Cả hai đều có chiều hướng chứa đựng một số quy tắc rõ ràng hoặc ngầm định về ai có các quyền đối với cái gì, và về các giới hạn đối với các quyền ấy và các giao dịch; chúng cũng bao gồm các điều khoản để lập hồ sơ quyền sở hữu của tài sản, các thủ tục để thực thi các quyền sở hữu và các yêu sách, các biểu tượng để xác định các ranh giới nằm ở đâu, các quy phạm để quản lý các giao dịch, các tiêu chuẩn để xác định cái gì cần phải được chuẩn y và cái gì có thể được thực hiện mà không cần xin phép, những hướng dẫn để xác định những biểu diễn nào là hợp lệ, các công cụ để khuyến khích người dân thực hiện đúng các hợp đồng và tôn trọng luật, và các tiêu chuẩn để xác định mức độ ẩn danh được cho phép đối với mỗi giao dịch.

Bởi vậy, có thể cho rằng, người dân đã được chuẩn bị để nghĩ về các quyền sở hữu theo những cách rất giống nhau. Điều này chẳng phải là một sự ngạc nhiên lớn; các quy ước dân gian luôn luôn lan truyền bằng phép loại suy từ một địa điểm này sang địa điểm khác một cách tự phát. Hơn nữa, sự di cư hàng loạt trong 40 năm vừa qua, chưa kể đến cách mạng toàn cầu trong truyền thông, có nghĩa là chúng ta đang chia sẻ ngày càng nhiều giá trị và khát vọng. (Những người thuộc thế giới thứ ba cũng xem tivi; họ cũng đi xem phim, sử dụng điện thoại, và mong muốn con em mình được giáo dục tốt và thoát mù máy tính). Điều không thể tránh khỏi là các khế ước xã hội ngoài pháp luật riêng rẽ trong cùng một nước sẽ giống nhau nhiều hơn là khác biệt.

Vấn đề của các khế ước xã hội ngoài pháp luật là những biểu diễn quyền sở hữu của chúng không được hệ thống hóa một cách đầy đủ và không chuyển đổi được để có một phạm vi ứng dụng ngoài các tham số địa lý riêng của chúng. Các hệ thống quyền sở hữu ngoài pháp luật là ổn định và có ý nghĩa với những người thuộc nhóm, nhưng chúng hoạt động ở mức có hệ thống thấp và không có những biểu diễn cho phép chúng tương tác dễ dàng với nhau. Lại một lần nữa, điều này giống với quá khứ của phương Tây khi các chứng thư quyền sở hữu chưa tồn tại. Trước thế kỷ XV ở châu Âu, chẳng hạn, mặc dù đã có một số cơ sở đăng ký biệt lập ở một vài nơi của vùng mà ngày nay là nước Đức, hầu hết cách thức tiến hành các quy tắc chính thống về các giao dịch quyền sở hữu tài sản đã không được viết thành văn và chỉ được biết thông qua truyền thống truyền miệng.

Nhiều người coi các nghi lễ và biểu tượng như những tiền thân biểu diễn của các chứng thư, cổ phần và hồ sơ chính thức ngày nay. Theo triết gia và sử gia Anh thế kỷ XVIII David Hume, ở một số nơi nhất định của châu Âu trong thời đại của ông, những chủ đất đã trao các cục đá và đất cho nhau để làm vật kỷ niệm việc chuyển giao đất đai; các nông dân đã biểu tượng hóa việc bán lúa mì bằng cách trao cho nhau chìa khóa của kho, nơi lúa mì được lưu giữ. Các bản viết trên da thuộc làm bằng chứng cho các giao dịch quyền sở hữu về đất đai được ấn xuống đất theo nghi lễ để biểu thị sự thỏa thuận. Tương tự, hàng thế kỷ trước ở đế quốc La Mã, Rome, luật La Mã đã quy định rằng, cỏ và cành cây phải được chuyển giao từ tay người này sang tay người khác để đại diện cho sự chuyển giao pháp lý các quyền sở hữu. Cũng vậy, những người Nhật đã có những xác nhận mang tính nghi lễ về các giao dịch; thí dụ, ở vùng Gumma Kodzuke, trong thời đại Tokugawa từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX khi việc bán đất nông nghiệp bị luật cấm, các chủ đất vẫn chuyển nhượng các tài sản của họ, xác nhận những thương vụ ngoài pháp luật này bằng các văn kiện thành văn được họ hàng của người bán và trưởng thôn niêm phong.

Dần dần, các hồ sơ thành văn được thu thập ở các sở đăng ký. Phải mất một thời gian trước khi những biểu thị này được đưa vào dạng sách. Nhưng chỉ đến thế kỷ XIX thì các sở đang ký quyền sở hữ khác nhau này và các khế ước xã hội điều chỉnh chúng mới được chuẩn hóa và được gom lại để tạo ra các hệ thống quyền sở hữu chính thức được tích hợp mà phương Tây có ngày nay.

Các quốc gia xã hội chủ nghĩa trước đây và thế giới thứ ba hiện giống như châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ vài trăm năm trước. Giống như phương Tây, họ phải nhận diện ra và gom những biểu thị quyền sở hữu hiện hành bị tản mát khắp đất nước họ và đưa chúng vào một hệ thống được tích hợp để cho các tài sản của tất cả các công dân của họ có tính chuyển đổi, có bộ máy hành chính, và có mạng lưới cần thiết để tạo tư bản.

Giải mã luật ngoài pháp luật

Khi các đồng nghiệp của tôi và tôi lần đầu tiên đối mặt với nhiệm vụ tích hợp những thỏa thuận quyền sở hữu tiền tư bản chủ nghĩa vào một hệ thống quyền sở hữu chính thức tư bản chủ nghĩa, phương Tây là khát vọng của chúng tôi. Nhưng khi chúng tôi bắt đầu tìm kiếm thông tin về cách các quốc gia tiên tiến đã tích hợp những thỏa thuận ngoài pháp luật của họ vào luật ra sao, thì chẳng có kế hoạch nào để chúng tôi sử dụng. Việc các quốc gia phương Tây đã nhận biết các loại bằng chứng ngoài pháp luật nào của quyền sở hữu làm các mẫu số chung của một hệ thống quyền sở hữu chính thức được tiêu chuẩn hóa, đáng tiếc được ghi lại rất sơ sài. John Payne giải thích tình trạng ở Anh:

Bằng chứng chính thức của chứng thư sở hữu như một phần của các giao dịch thương mại về đất đai rõ ràng là một sự phát triển muộn trong luật Anh, nhưng thông tin hiện thời ít đến mức làm cho một giả thuyết như vậy đơn thuần chỉ có tính phỏng đoán. Điều làm sử gia bực bội là, trong khi các sự kiện lớn được ghi chép chi tiết, thì người dân hiếm khi cảm thấy cần thiết phải ghi lại bản kê khai những hoạt động giản dị hàng ngày của họ. Làm như vậy có vẻ như thừa và vô vị, bởi vì chẳng ai muốn bị nhắc nhở về những cái hiển nhiên. Vì vậy cái mà mọi người cho là hiển nhiên ở một thời đại lại không được nhắc đến ở thời đại sau, và việc dựng lại các thủ tục bình thường đòi hỏi phải tỉ mẩn ráp các nguồn, những cái được lưu lại cho một mục đích hoàn toàn khác, lại với nhau. Điều này chắc chắn là đúng với các thói quen của các luật sư chuyên thảo giấy chuyển nhượng tài sản, bởi vì, cho đến thế kỷ [mười chín] chúng ta chỉ có hiểu biết hạn chế về việc họ làm công việc của họ như thế nào trên thực tế.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s