Những người cấp tiến ủng hộ, và tại rất nhiều nơi đã đạt được, những cải cách khác nhằm tách nền chính trị địa phương khỏi nền chính trị quốc gia trên cơ sở “ không có một cách thức theo kiểu Cộng hòa hay Dân chủ trong việc lát một con đường” (quên mất rằng những người Dân chủ và Cộng hòa có thể có những ưu tiên khác nhau trong việc quyết định những con đường của ai sẽ được lát hoặc ai sẽ được giao thầu việc lát đường). Ở cấp địa phương, các cuộc bầu cử được tiến hành chính thức “không mang tính đảng phái”, và được tổ chức riêng rẽ với các cuộc bầu cử của liên bang. Các bang cũng thông qua những luật lệ đòi hỏi các cử tri tương lai phải đăng ký trước ngày bầu cử (để giảm khả năng gian dối) và vượt qua kỳ kiểm tra khả năng biết độc biết viết (khác với các lá phiếu do từng đảng in ra trước đây, lá phiếu kiểu Australia chỉ được sử dụng bởi những người biết đọc biết viết). Những nhà quản lý thành phố chuyên nghiệp được thuê để điều hành thành phố giống như những tập đoàn kinh doanh, và các dịch vụ của thành phố được “tách biệt khỏi chính trị” bằng cách đặt chúng dưới sự kiểm soát của những ủy ban độc lập. Ở cấp quốc gia, một tu chính án Hiến pháp, được thông qua vào năm 1913, đã tước bỏ thẩm quyền lựa chọn các thượng nghị sĩ Mỹ của cơ quan lập pháp bang và trao quyền này cho các cử tri, xóa bỏ nền chính trị đảng phái vốn đã chi phối việc lựa chọn các thượng nghị sĩ.

Mặc dù bề ngoài nhằm mục đích triệt bỏ tham nhũng và làm trong sạch nền chính trị bầu cử, song các cuộc cải cách cấp tiến cũng được thiết kế để tăng cường ảnh hưởng chính trị của một nhóm người “thích hợp” – những thành viên thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu được đào tạo bài bản, giống như bản thân các nhà cải cách – trên cơ sở hủy hoại tầng lớp người nhập cư nghèo ở đô thị và những nhà lãnh đạo “không có gì xuất chúng về mặt xã hội” của họ. Luật đăng ký cử tri chặt chẽ hơn đã thể hiện sự phân biệt đối xử bất lợi cho người nghèo và người không được học hành. Các bài kiểm tra khả năng biết đọc biết viết cũng có cùng tác động và được sử dụng rộng rãi ở miền Nam để tước quyền bỏ phiếu của người Mỹ gốc Phi.

Những cải cách cấp tiến được áp dụng ở mức độ khác nhau tại hầu hết các bang. Và chúng có hiệu quả xét trên tổng thể, làm suy yếu hoặc phá hủy các bộ máy đảng phái và ngăn chặn khả năng các bộ máy này có ảnh hưởng trở lại. Tại những nơi mà chương trình cải cách của những người cấp tiến được hoàn tất, các đảng phái đều trở nên chẳng khác vì những vỏ sò trống rỗng, tồn tại chủ yếu để giúp chính quyền bang quản lý các cuộc bầu cử. Ví dụ, cho tới tận gần đây, các tổ chức đảng phái chính thức ở California thậm chí còn không được phép chứng thực cho các ứng cử viên tại các vòng bầu cử sơ bộ. Mặc dù vậy các tổ chức đảng mạnh vẫn duy trì được tại một số nơi, thường là trong rất nhiều năm. Ví dụ, một bộ máy do những người Dân chủ kiểm soát đã điều hành Chicago cho tới tận những năm 1970. Tuy nhiên, trong dài hạn, các cuộc cải cách cấp tiến đã tước bỏ phần lớn quyền lực chính trị của các tổ chức đảng ở địa phương và bang – những đơn vị cơ bản của các đảng phái quốc gia.

Hậu quả của những cải cách cấp tiến. Những thay đổi này mang lại một số hậu quả quan trọng đối với nền chính trị bầu cử. Thứ nhất, tỷ lệ người đi bỏ phiếu giảm. Các luật lệ đăng ký bầu cử được thắt chặt hơn, lá phiếu kiểu Australia, và các bài kiểm tra trình độ đọc viết đã hạn chế việc đi bỏ phiếu. Do các việc làm và quyền lợi để thưởng cho những người vận động của đảng ngày càng ít, nên cũng có ngày càng ít người tình nguyện làm những công việc để lôi kéo cử tri ủng hộ đảng và đưa họ tới hòm phiếu vào ngày bầu cử. Theo Hình 12 – 3, từ cuộc Nội chiến tới những năm 1890, có khoảng 80% cử tri đủ điều kiện đã tham gia bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử tổng thống. Cho tới những năm 1910, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu đã giảm xuống còn khoảng 60%. Tỷ lệ này còn xuống thấp hơn khi phụ nữ được trao quyền bầu cử vào năm 1920 và số lượng các cử tri đủ điều kiện bỏ phiếu tăng gấp đôi. Nó không tăng quá mức 60% là bao trong tất cả những năm bầu cử kể từ đó. Rất nhiều phụ nữ ngay từ đầu đã phớt lờ chính trị, coi đó là “việc của nam giới”, và tỷ lệ phụ nữ đi bỏ phiếu – hiện nay đang vượt quá tỷ lệ của nam giới – đã phải mất nửa thế kỷ mới đạt tới mức ngang bằng. Tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu giảm nhiều nhất trong số người nghèo và không được học hành – những người phụ thuộc nhiều nhất vào các đảng phái để có động lực bỏ phiếu.

Những cải cách này cũng bắt đầu làm chuyển dịch trọng tâm của nền chính trị bầu cử từ các đảng phái sang các cử tri. Khi các tổ chức đảng kiểm soát việc đề cử và cử tri chỉ được lựa chọn trong danh sách ứng cử viên mà các đảng đưa ra, sự nghiệp chính trị của các ứng cử viên bị ràng buộc chặt chẽ với các đảng phái. Với việc sử dụng lá phiếu kiểu Australia và các cuộc bầu cử sơ bộ, những ràng buộc này đã bị suy yếu. Các ứng cử viên có thể giành được sự đề cử có hoặc không có sự ủng hộ của đảng phái bằng cách kêu gọi trực tiếp các cử tri; họ có thể tiến hành những chiến dịch vận động riêng rẽ với các nhóm của đảng bởi các cử tri hiện nay có thể dễ dàng bỏ phiếu trên một danh sách chia rẽ. Nền chính trị bầu cử lấy ứng cử viên làm trung tâm chỉ phát triển tói đỉnh điểm khi có sự phát triển của các công nghệ thông tin mới – chủ yếu là truyền hình và thư từ trực tiếp qua máy tính, nhưng những mầm mống của nó thì đã được gieo từ những cải cách cấp tiến.

Bằng cách biến đổi những động lực khuyến khích việc thực hiện các công tác của đảng, những cải cách này cũng góp phần tạo nên những thay đổi trong thành phần đảng viên và mục tiêu của các tổ chức đảng phái. Các tổ chức đảng truyền thống được xây dựng trên cơ sở những động cơ khuyến khích vật chất hấp dẫn đối với giai cấp công nhân; do vậy, các đảng phái tập trung vào việc giành chiến thắng trong bầu cử để giữ cho những lợi ích vật chất này vẫn được tiếp tục. Khi cơ sở nguồn lực của chúng bị thu hẹp, các đảng phái dựa trên chế độ bảo trợ được thay thế bởi các tổ chức đảng gồm những người thuộc tầng lớp trung lưu bị cuốn hút bởi những động cơ không mang tính vật chất – được cống hiến cho một ứng cử viên, một vấn đề hoặc một lý tưởng cụ thể – những người mà đối với họ chiến thắng của đảng thường không quan trọng bằng thành công của ứng cử viên mà họ yêu thích hoặc lập trường mà họ ủng hộ trong các vấn đề.

Điều nghịch lý là Kỷ nguyên tiến bộ đã khiến cho những người Cộng hòa và Dân chủ trở nên yếu hơn về mặt tổ chức, nhưng lại cố thủ vững chắc hơn bao giờ hết trong hệ thống chính trị. Một thời từng được coi là các nhóm riêng tư, các đảng phái giờ đây được điều chỉnh bởi luật pháp tại rất nhiều bang với tư cách là các thực thể công thiết yếu chịu trách nhiệm quản lý các cuộc bầu cử. Các quy định thường có xu hướng dành đặc quyền cho hai đảng chủ chốt và phân biệt đối xử với các đảng mới và các ứng cử viên độc lập. Hơn nữa, việc tiến hành các cuộc bầu cử sơ bộ đã khích lệ những người chống đối hoạt động trong khuôn khổ các đảng chủ chốt bởi những người bên ngoài giờ đây có thể cạnh tranh để kiểm soát bộ máy cũng như danh nghĩa của đảng. Tại sao những người bất mãn lại phải tiến hành một công cuộc lâu dài để giành chiến thắng dưới danh nghĩa một đảng mới trong khi họ có thể biến đổi một đảng lâu đời cho phù hợp với sự nghiệp của mình? Không đảng mới nào có thể tiến gần tới việc thách thức một trong hai đảng chủ chốt trong thế kỷ XX, nhưng các đảng này đều phải trải qua một số biến động lớn lao do những thách thức từ bên trong.

Hệ thống đảng phái thứ tư: Uy thế của Đảng Cộng hòa

Từ khi kết thúc cuộc Tái thiết vào năm 1876, cho tới năm 1894, hệ thống đảng phái thứ ba của Mỹ đã đi vào nề nếp, và những người Cộng hòa và Dân chủ cạnh tranh trong những nhiệm kỳ gần như ngang bằng. Năm 1896, những người Dân chủ đã phản ứng trước tình trạng suy thoái mạnh về kinh tế bằng cách chấp nhận diễn đàn của Đảng Nhân dân, hay còn gọi là Đảng Dân túy, một đảng của những người nông dân chống lại tốc độ xây dựng đường sắt quá nhanh và chế độ bản vị vàng; ứng cử viên tổng thống đầu tiên của đảng này đã giành chiến thắng tại năm bang vào năm 1892. Những người Dân chủ đề cử ứng cử viên tổng thống là William Jennings Bryan, một ứng cử viên có sự đồng cảm sâu sắc với những người Dân túy. Ngoài những sáng kiến kinh tế khác, Bryan và những người Dân chủ đã đề xuất việc đưa bạc trở thành một đơn vị tiền tệ tiêu chuẩn cùng với vàng. Chế độ bản vị bạc có thể làm tăng cung về tiền, giảm bớt lãi suất và do đó cả áp lực lên các con nợ, chủ yếu là các nông dân và người dân miền Tây. Chiến dịch vận động tranh cử của Đản Cộng hòa đã thuyết phục rất nhiều công nhân ở thành thị rằng những đề xuất của Đảng Dân chủ đe dọa sinh kế của họ (chế độ tiền tệ “lành mạnh” được hỗ trợ bởi vàng là xương sống của hệ thống tài chính giúp duy trì nền kinh tế công nghiệp) và do vậy đã biến họ trở thành những người ủng hộ Đảng Cộng hòa. Phản ứng trước việc tiếp quản đất đai nông nghiệp của những người Dân chủ đã mang lại cho những người Cộng hòa đa số ủng hộ rõ ràng trên phạm vi toàn quốc trong hơn hai mươi năm sau đó; liên minh mới thường được xem là hệ thống đảng phái thứ tư.

Đảng Cộng hòa cuối cùng đã mất đi uy thế của nó do cuộc Đại khủng hoảng. Vốn được tín nhiệm nhờ sự thịnh vượng kinh tế trong thập niên 1920 với những chính sách ưu đãi lớn cho các thể chế tài chính và tập đoàn công nghiệp, Đảng Cộng hòa và tổng thống của họ, Herbert Hoover, đã bị chỉ trích không ngừng do sự tàn phá về kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp cao sau vụ sụp đổ thị trường chứng khoán vào năm 1929. Franklin Roosevelt, ứng cử viên Đảng Dân chủ, đã đánh bại Hoover trong cuộc bầu cử năm 1932. Chính sách mới (New Deal) của Roosevelt đã củng cố một liên minh lợi ích mới – liên minh đã mang lại cho Đảng Dân chủ sự ủng hộ của đa số dân chúng. Bất chấp sự biến đổi chậm chạp của liên minh này kể từ những năm 1960, Đảng Dân chủ vẫn duy trì được đa số này – một cách rất khó khăn – cho tới tận ngày nay.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s