Mối liên hệ giữa QE và lượng tiền

QE có tác động trực tiếp đến cả lượng tiền cơ sở và lượng tiền theo nghĩa rộng do cách mà Ngân hàng tiến hành mua tài sản. Chính sách này nhằm mục đích mua các tài sản, trái phiếu chính phủ, chủ yếu từ các công ty tài chính phi ngân hàng, như quỹ hưu trí hay các công ty bảo hiểm. Ví dụ, giả sử mua trái phiếu chính phủ trị giá 1 tỷ bảng từ quỹ hưu trí. Một cách mà Ngân hàng có thể thực hiện việc mua sắm này là in 1 tỷ bảng Anh và trao đổi trực tiếp với quỹ hưu trí. Nhưng giao dịch với số tiền mặt lớn như vậy là không thực tế. Bởi vậy, những loại giao dịch này được thực hiện bằng cách sử dụng các loại tiền điện tử.

Vì quỹ hưu trí không có tài khoản dự trữ ở Ngân hàng Anh, nên ngân hàng thương mại nơi mà nó mở tài khoản ngân hàng được sử dụng như một trung gian. Ngân hàng của quỹ hưu trí ghi có vào tài khoản của quỹ hưu trí 1 tỷ bảng tiền gửi để đổi lấy trái phiếu chính phủ. Điều này được minh họa như hàng thứ nhất của Hình 3. Ngân hàng trung ương Anh tài trợ cho việc mua sắm này bằng cách ghi có dự trữ cho ngân hàng của quỹ hưu trí- nó trao cho ngân hàng thương mại một IOU (hàng thứ hai). Bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại mở rộng: nợ tiền gửi mới tương ứng với một tài sản dưới dạng dự trữ mới (hàng thứ ba).

Hai quan niệm sai lầm về cách thức QE vận hành

Tại sao dự trữ bổ sung không phải là “tiền tự do” đối với các ngân hàng

Trong khi việc mua tài sản của ngân hàng trung ương liên quan- và tác động- đến các bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại, thì vai trò chính của các ngân hàng này là một trung gian nhằm tạo thuận lợi cho giao dịch giữa ngân hàng trung ương với quỹ hưu trí. Khoản dự trữ bổ sung thể hiện trong Hình 3 chỉ đơn giản là một phụ phẩm của giao dịch này. Đôi khi người ta lập luận rằng, bởi vì chúng là tài sản của các ngân hàng thương mại, và ngân hàng thương mại kiếm được lãi từ nó, nên những khoản dự trữ này tượng trưng cho “tiền tự do” của các ngân hàng. Trong khi các ngân hàng kiếm được lãi suất trên dự trữ mới, QE cũng tạo ra một nghĩa vụ nợ đi kèm cho ngân hàng dưới dạng tiền gửi của quỹ hưu trí, mà chính ngân hàng thường phải trả lãi cho tiền gởi đó. Nói cách khác, QE đưa cho các ngân hàng một IOU mới từ ngân hàng trung ương, nhưng cũng đưa một IOU mới tương ứng cho người tiêu dùng (trong trường hợp này là quỹ hưu trí) và các lãi suất của hai IOU này đều phụ thuộc vào lãi suất Ngân hàng.

Hình 3: Tác động của QE lên các bảng cân đối kế toán.

Tại sao các khoản dự trữ bổ sung không được nhân lên thành các khoản cho vay và tiền theo nghĩa rộng mới

Như đã thảo luận ở trên, cơ chế truyền dẫn của QE dựa vào các tác động của khoản tiền theo nghĩa rộng mới tạo ra- chứ không phải tiền cơ sở. Khởi đầu của sự truyền dẫn là việc tạo ra các khoản tiền gửi ngân hàng trên bảng cân đối kế toán của người nắm giữ tài sản thay thế cho nợ của chính phủ (Hình 3, hàng đầu). Điều quan trọng là các khoản dự trữ được tạo ra trong khu vực ngân hàng (Hình 3, hàng thứ ba) không đóng vai trò trung tâm. Như đã giải thích ở trên, điều này là do các ngân hàng không thể trực tiếp cho vay các khoản dự trữ này. Dự trữ là một IOU từ ngân hàng trung ương cho các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng này có thể sử dụng nó để thanh toán cho nhau, nhưng không thể sử dụng chúng cho khách hàng trong nền kinh tế, những người không có tài khoản dự trữ, “vay”. Khi các ngân hàng cho vay thêm, nó phải ghi nợ thêm khoản tiền gửi tương ứng- lượng dự trữ không thay đổi.

Hơn nữa, dự trữ mới không nhân lên một cách cơ học thành các khoản cho vay mới và tiền gửi mới như tiên liệu của lý thuyết về số nhân của tiền. QE làm gia tăng tiền theo nghĩa rộng mà không trực tiếp dẫn đến, hoặc đòi hỏi, sự gia tăng trong cho vay. Trong khi phần đầu tiên của lý thuyết về số nhân của tiền liên quan đến QE- quan điểm về tiền tệ quyết định một cách cơ học lượng dự trữ- các khoản dự trữ mới được tạo ra không tự chúng thay đổi một cách có ý nghĩa các động cơ để các ngân hàng tạo ra khoản tiền theo nghĩa rộng mới bằng cho vay. QE có thể tác động gián tiếp đến các động cơ để các ngân hàng cho vay mới, ví dụ bằng cách giảm chi phí huy động vốn hay tăng dư nợ tín dụng thông qua việc tăng cường hoạt động.[41] Tuy nhiên, QE có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp hoàn trả nợ ngân hàng, nếu như họ phát hành thêm trái phiếu hoặc cổ phiếu và sử dụng số tiền huy động được này để trả nợ ngân hàng. Bởi vậy, nếu cân nhắc kĩ thì QE có thể tăng hoặc giảm lượng tiền vay ngân hàng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, các kênh này không được kỳ vọng là những phần then chốt của cơ chế truyền dẫn: thay vào đó, QE vận hành thông qua việc tác động đến lĩnh vực ngân hàng, nhằm tăng chi tiêu trực tiếp của khu vực tư nhân.[42]

Kết luận

Bài báo này đã thảo luận cách thức mà tiền được tạo trong nền kinh tế hiện đại. Hầu hết tiền trong lưu thông được tạo ra không phải từ máy in của Ngân hàng Anh, mà do chính các ngân hàng thương mại tạo ra: các ngân hàng tạo tiền bất cứ khi nào nó cho một ai đó trong nền kinh tế vay hoặc mua một tài sản từ người tiêu dùng. Trái ngược với những mô tả được tìm thấy trong một số giáo trình, Ngân hàng Anh không kiểm soát trực tiếp lượng lượng tiền cơ sở lẫn lượng tiền theo nghĩa rộng. Tuy vậy, Ngân hàng Anh vẫn có thể tác động đến lượng tiền trong nền kinh tế. Nó thực hiện điều này trong những thời kỳ bình thường bằng cách thiết lập chính sách tiền tệ- thông qua mức lãi suất mà nó trả cho các khoản dự trữ của các ngân hàng thương mại ở ngân hàng trung ương. Dù vậy, gần đây, với lãi suất Ngân hàng bị ràng buộc bởi giới hạn thấp hơn hiệu quả (effective lower bound), chương trình mua tài sản của Ngân hàng Anh đã tìm cách tăng lượng tiền theo nghĩa rộng trong lưu thông. Điều này ảnh hưởng đến giá cả và số lượng của một loạt các tài sản trong nền kinh tế, bao gồm cả tiền.

Nguyễn Minh Cao Hoàng dịch

Nguồn: “Money creation in the modern economy“, Bank of England, Quarterly Bulletin, 2014 Q1

—–

[41] Một cơ chế tương tự, theo đó QE có thể tăng cho vay ngân hàng bằng cách cho phép các ngân hàng thu hút nguồn vốn ổn định hơn được thảo luận trong Miles (2012).

[42] Những kênh này, cũng như tác động của QE đối với việc cho vay ngân hàng rộng rãi hơn, được thảo luận chi tiết trong một hộp ở Butt và cộng sự (2012).

—–

Tài liệu tham khảo

Astley, M and Haldane, A (1995), ‘Money as an indicator’, Bank of England Working Paper No. 35.

Bank of England (1999), ‘The transmission mechanism of monetary policy’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/publications/%20Documents/other/monetary/montrans.pdf.

Benes, J and Kumhof, M (2012), ‘The Chicago Plan revisited’, IMF Working Paper No. 12/202.

Benford, J, Berry, S, Nikolov, K, Robson, M and Young, C (2009), ‘Quantitative easing’,Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 49, No. 2, pages 90–100.

Bernanke, B (2007), ‘The financial accelerator and the credit channel’, speech at a conference on The Credit Channel of Monetary Policy in the Twenty-first Century, Federal Reserve Bank of Atlanta.

Bindseil, U (2004), ‘The operational target of monetary policy and the rise and fall of the reserve position doctrine’, ECB Working Paper No. 372.

Bowdler, C and Radia, A (2012), ‘Unconventional monetary policy: the assessment’,Oxford Review of Economic Policy, Vol. 28, No. 4, pages 603–21.

Bridges, J, Rossiter, N and Thomas, R (2011), ‘Understanding the recent weakness in broad money growth’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 51, No. 1, pages 22–35.

Bridges, J and Thomas, R (2012), ‘The impact of QE on the UK economy — some supportive monetarist arithmetic’, Bank of England Working Paper No. 442.

Brigden, A and Mizen, P (2004), ‘Money, credit and investment in the UK industrial and commercial companies sector’, The Manchester School, Vol. 72, No. 1, pages 72–79.

Burgess, S and Janssen, N (2007), ‘Proposals to modify the measurement of broad money in the United Kingdom: a user consultation’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 47, No. 3, pages 402–14.

Butt, N, Domit, S, Kirkham, L, McLeay, M and Thomas, R (2012), ‘What can the money data tell us about the impact of QE?’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 52, No. 4, pages 321–31.

Button, R, Pezzini, S and Rossiter, N (2010), ‘Understanding the price of new lending to households’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 50, No. 3, pages 172–82.

Capie, F and Webber, A (1985)A monetary history of the United Kingdom, 1870–1982, Vol. 1, Routledge.

Carpenter, S and Demiralp, S (2012), ‘Money, reserves, and the transmission of monetary policy: does the money multiplier exist?’, Journal of Macroeconomics, Vol. 34, No. 1, pages 59–75.

Clews, R, Salmon, C and Weeken, O (2010), ‘The Bank’s money market framework’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 50, No. 4, pages 292–301.

Congdon, T (1992)Reflections on monetarism, Clarendon Press.

Congdon, T (2005), ‘Money and asset prices in boom and bust’, Institute of Economic Affairs, Hobart Paper No. 152.

Disyatat, P (2008), ‘Monetary policy implementation: misconceptions and their consequences’, BIS Working Paper No. 269.

Farag, M, Harland, D and Nixon, D (2013), ‘Bank capital and liquidity’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 53, No. 3, pages 201–15.

Friedman, M (1963)Inflation: causes and consequences, Asia Publishing House.

Haldane, A (2009), ‘Why banks failed the stress test’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/archive/documents/historicpubs/%20speeches/2009/speech374.pdf.

Hancock, M (2005), ‘Divisia money’, Bank of England Quarterly Bulletin, Spring, pages 39–46.

Hills, S, Thomas, R and Dimsdale, N (2010), ‘The UK recession in context — what do three centuries of data tell us?’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 50, No. 4, pages 277–91.

Howells, P (1995), ‘The demand for endogenous money’, Journal of Post Keynesian Economics, Vol. 18, No. 1, pages 89–106.

Jackson, C and Sim, M (2013), ‘Recent developments in the sterling overnight money market’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 53, No. 3, pages 223–32.

Joyce, M, Tong, M and Woods, R (2011), ‘The United Kingdom’s quantitative easing policy: design, operation and impact’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 51, No. 3, pages 200–12.

Kaldor, N and Trevithick, J (1981), ‘A Keynesian perspective on money’, Lloyds Bank Review, January, pages 1–19.

Kamath, K, Reinold, K, Nielsen, M and Radia, A (2011), ‘The financial position of British households: evidence from the 2011 NMG Consulting survey’, Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 51, No. 4, pages 305–18.

Kydland, F and Prescott, E (1990), ‘Business cycles: real facts and a monetary myth’,Federal Reserve Bank of Minneapolis Quarterly Review, Vol. 14, No. 2, pages 3–18.

Laidler, D (1984), ‘The buffer stock notion in monetary economics’, The Economic Journal, Vol. 94, Supplement: Conference Papers, pages 17–34.

Laidler, D and Robson, W (1995), ‘Endogenous buffer-stock money’, Credit, interest rate spreads and the monetary policy transmission mechanism, Session 3, conference on The Transmission of Monetary Policy held at the Bank of Canada in November 1994.

Miles, D (2012), ‘Asset prices, saving and the wider effects of monetary policy’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/%20publications/Documents/speeches/2012/speech549.pdf.

Mitchell, B R (1988)British historical statistics, Cambridge University Press.

Moore, B (1988)Horizontalists and verticalists: the macroeconomics of credit money, Cambridge University Press.

Palley, T (1996)Post Keynesian economics: debt, distribution and the macro economy, Macmillan.

Sefton, J and Weale, M (1995)Reconciliation of National Income and Expenditure: balanced estimates of national income for the United Kingdom, 1920–1990, Cambridge University Press.

Singh, M (2013), ‘Collateral and monetary policy’, IMF Working Paper No. 13/186.

Solomou, S N and Weale, M (1991), ‘Balanced estimates of UK GDP 1870–1913’,Explorations in Economic History, Vol. 28, No. 1, pages 54–63.

Thomas, R (1997a), ‘The demand for M4: a sectoral analysis, Part 1 — the personal sector’, Bank of England Working Paper No. 61.

Thomas, R (1997b), ‘The demand for M4: a sectoral analysis, Part 2 — the corporate sector’, Bank of England Working Paper No. 62.

Tobin, J (1963), ‘Commercial banks as creators of ‘money’’, Cowles Foundation Discussion Papers No. 159.

Tucker, P (2009), ‘The debate on financial system resilience: macroprudential instruments’, available athttp://www.bankofengland.co.uk/%20publications/Documents/speeches/2012/speech549.pdf.

Tucker, P, Hall, S and Pattani, A (2013), ‘Macroprudential policy at the Bank of England’,Bank of England Quarterly Bulletin, Vol. 53, No. 3, pages 192–200.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s