Vấn đề Nam Hải (Biển Đông) hoặc vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong ngoại giao Việt Nam trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11 của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2011 – 2016 (Đại hội 11), ảnh hưởng đối với ngoại giao Việt Nam cũng ngày càng lớn, thậm chí ở mức độ nào đó đã chủ đạo ngoại giao Việt Nam. Bài viết gọi tình hình này là: “Ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải”. Từ mặt công khai cho thấy việc ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải được thể hiện ở chỗ: Dường như trên tất cả các kênh trao đổi của Việt Nam với nước ngoài đều thể hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp sự hiện diện của vấn đề Nam Hải. Hành động này vừa là quá trình, vừa là kết quả; ý nghĩa của việc ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải với tư cách là “một quá trình” được thể hiện ở địa vị của vấn đề Nam Hải trong tiến trình ngoại giao Việt Nam ngày càng quan trọng; với tư cách là “kết quả” thì được thể hiện ở những nỗ lực ngoại giao Việt Nam phục vụ ngày càng nhiều cho mục tiêu của Việt Nam trong vấn đề Nam Hải. Nhân tố nào gây ra tình trạng này? Ảnh hưởng nổi bật của vấn đề Nam Hải trong ngoại giao Việt Nam còn tiếp diễn sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội 12)? Căn cứ phán đoán là gì? Đây là những điều mà bài viết sẽ tập trung nghiên cứu.

I/ Vấn đề Nam Hải và ngoại giao Việt Nam: Tính cần thiết của việc tìm tòi nghiên cứu

Vấn đề Nam Hải là vấn đề của Việt Nam trên rất nhiều kênh ngoại giao song phương. Trước khi nghiên cứu việc ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải, bài viết phân tích trước vấn đề Nam Hải giữa Việt Nam với nhiều nước xung quanh Nam Hải. Điều này không chỉ có lợi cho việc hiểu rõ nội hàm phong phú của vấn đề Nam Hải dưới góc nhìn Việt Nam, mà còn có lợi cho việc giải thích rõ tính tất yếu của chủ đề bài viết. Sau đó, giải thích rõ tính cần thiết của việc nghiên cứu ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải.

1/ Vấn đề Nam Hải dưới góc nhìn Việt Nam

Vấn đề Nam Hải dưới góc nhìn Việt Nam liên quan đến chủ quyền và ranh giới vùng biển của một số đảo, đá ở Nam Hải. Cụ thể, vấn đề Nam Hải từ góc độ Việt Nam bao gồm:

(1) Ranh giới Vịnh Bắc Bộ

(2) Quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là quần đảo Tây Sa) và tranh chấp vùng biển ở quần đảo này.

Hai vấn đề nêu trên chỉ là một phần nội dung giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải, các nước trong khối ASEAN cũng liên quan đến vấn đề Nam Hải gồm Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia.

(3) Chủ trương quyền lợi mang tính xung đột giữa Việt Nam với Trung Quốc (bao gồm cả khu vực Đài Loan), Philippines, Malaysia ở quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là quần đảo Nam Sa).

Quần đảo Nam Sa về cơ bản tương đương với quần đảo Trường Sa mà Việt Nam từng nói, nhưng phạm vi khu vực lại không hoàn toàn giống nhau, như bãi Vạn An (bãi Tư Chính) và bãi Nam Vĩ (bãi Vũng Mây, Rifleman Bank) ở phía Tây Nam quần đảo Nam Sa, không nằm trong phạm vi quần đảo Trường Sa mà Việt Nam chủ trương, được Việt Nam đưa vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nước này; lại ví dụ bãi ngầm Tăng Mẫu (James Shoal) và cụm bãi cạn Bắc Khang/Nam Khang An Sa (cụm bãi cạn Luconia Bắc và cụm bãi cạn Luconia Nam) và các đảo đá ở phía Nam quần đảo Nam Sa như đá Nam Thông (Louisa Reef)…, không nằm trong phạm vi của quần đảo Trường Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Việt Nam tồn tại tranh chấp với Malaysia trong vấn đề chủ quyền một phần đảo, đá ở quần đảo Nam Sa, dường như tất cả các đảo, đá thuộc quần đảo Nam Sa do Malaysia kiểm soát thực tế đều bị Việt Nam cho là một phần của quần đảo Trường Sa thuộc Việt Nam, như đá Hoa Lau (Swallow Reef)… Còn đảo An Bang (Amboyna Cay), bãi Thuyền Chài (Barque Canada Reef) do Việt Nam kiểm soát bị Malaysia đưa vào phạm vi thuộc Malaysia. Biển Tây Philippines của Philippines và Biển Đông của Việt Nam đều là cách gọi độc quyền đối với một phần Nam Hải, hai cách gọi này đã đại diện cho sự theo đuổi của Philippines và Việt Nam ở Nam Hải; mức độ trùng hợp của 2 cách gọi này là tương đối lớn, cũng đã thể hiện đòi hỏi quyền lợi mang tính xung đột của Philippines và Việt Nam ở Nam Hải. Thành phố (quần đảo) Kalayaan thuộc tỉnh Palawan của Philippines, và huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa của Việt Nam đều là “chế độ hành chính” nhằm vào một phần quần đảo Nam Sa của Trung Quốc; cả hai đã cho thấy chủ trương quyền lợi mang tính chồng chéo của Philippines và Việt Nam ở quần đảo Nam Sa. Tuy nhiên, tranh chấp quyền lợi giữa Việt Nam với 2 nước Philippines và Malaysia xoay quanh Nam Hải và các đảo, đá ở Nam Hải, chưa từng xuất hiện quy mô và cấp độ giống với hoặc ngang bằng với vấn đề Nam Hải hoặc xung đột Nam Hải giữa Việt Nam và Trung Quốc. Vấn đề Nam Hải giữa Việt Nam và Malaysia, giữa Việt Nam và Philippines cũng không phải là động lực chủ yếu để ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải, vấn đề Nam Hải giữa Việt Nam và Trung Quốc mới là nguồn gốc chủ yếu thúc đẩy Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải từ kênh ngoại giao.

(4) Chủ trương của Việt Nam ở quần đảo Nam Sa và vùng biển của quần đảo này chồng chéo với Brunei và Indonesia. Việt Nam chủ trương bãi Nam Vi thuộc quần đảo Nam Sa nằm trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, còn Brunei đưa bãi Nam Vi vào phạm vi vùng biển mà nước này tuyên bố chủ quyền ở Nam Hải. Chủ trương mang tính chồng chéo giữa Việt Nam với Indonesia ở vùng biển phía Bắc quần đảo Natuna, có một phần liên quan đến vùng biển trong phạm vi “đường 9 đoạn” trên Nam Hải của Trung Quốc.

2/ Vì sao phải nghiên cứu thảo luận?

Ảnh hưởng của việc ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải đã vượt qua vấn đề Nam Hải và bản thân ngoại giao Việt Nam, liên quan đến nghiên cứu đánh giá của môi trường ngoại giao Trung Quốc và vấn đề Nam Hải. Đây là kết quả của nỗ lực tập thể đội ngũ ngoại giao Việt Nam dưới sự chỉ đạo và ngầm đồng ý của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, và giành được thành công chưa từng có cho chủ trương và quyền lợi Nam Hải của Việt Nam và ngoại giao Việt Nam.

Cho dù vấn đề Nam Hải của Việt Nam là vấn đề trong nhiều quan hệ song phương của Việt Nam, nhưng vấn đề Nam Hải được thể hiện rất nổi bật trong quan hệ song phương Việt – Trung, đó là xung đột nhiều hơn điều tiết và hợp tác. Còn trong quan hệ song phương giữa Việt Nam với nước ngoài trừ quan hệ Việt – Trung, hợp tác xoay quanh vấn đề Nam Hải lại nhiều hơn xung đột. Như vấn đề Nam Hải giữa Việt Nam và Philippines, giữa Việt Nam và Malaysia, đều có thể thúc đẩy theo hướng hợp tác song phương, ít nhất không đến mức ảnh hưởng quan hệ song phương. Còn vấn đề Nam Hải giữa Việt Nam và Brunei chỉ là về lý luận tồn tại vùng biển chồng lấn – bãi Nam Vi và vùng biển gần bãi này, thậm chí đều chưa trở thành vấn đề trong quan hệ song phương, trên mặt công khai, kênh song phương Việt Nam – Brunei chưa từng xảy ra xung đột vì vấn đề Nam Hải. Trái lại, vấn đề Nam Hải trong quan hệ Việt – Trung thể hiện ảnh hưởng tiêu cực lớn hơn, vấn đề Nam Hải không chỉ ảnh hưởng đến quan hệ song phương Việt – Trung, mà còn ảnh hưởng đến tình hình khu vực, tác động đến quan hệ song phương giữa Trung Quốc hay Việt Nam với các nước khác và tổ chức quốc tế. Biểu hiện điển hình là: Quan hệ Trung – Mỹ cũng chịu ảnh hưởng của vấn đề Nam Hải giữ Việt Nam và Trung Quốc. Tháng 7/2010, tại Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) được tổ chức ở Hà Nội, Việt Nam, thái độ công khai của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton về việc vấn đề Nam Hải liên quan đến “lợi ích quốc gia” của Mỹ, là biểu hiện trực tiếp của vấn đề Nam Hải giữa Việt Nam và Trung Quốc ảnh hưởng đến quan hệ Trung – Mỹ. Đây không chỉ là kết quả của việc Mỹ trực tiếp can dự vào vấn đề Nam Hải, mà còn là kết quả của việc ngoại giao Việt Nam tận dụng một cách khéo léo vấn đề Nam Hải. Từ tháng 5 – 7/2014, Việt Nam ra sức ngăn chặn hoạt động thăm dò của Trung Quốc trên vùng biển phía Nam đảo Trung Kiến (Việt Nam gọi là đảo Tri Tôn) thuộc quần đảo Tây Sa, không chỉ giành được sự lên tiếng ủng hộ trực tiếp hoặc gián tiếp của các nước trong khu vực, mà còn nhận được sự ủng hộ của Mỹ; hoạt động thăm dò trên biển của Trung Quốc nhanh chóng bị dừng lại sau cuộc điện đàm giữa hai nguyên thủ Trung – Mỹ, phải chăng đây chỉ là sự trùng hợp? Phải chăng không có một chút kết quả nào từ nỗ lực ngoại giao làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải của Việt Nam?

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

TLTKĐB – 11/04/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s