Cho nên chỉ ở cấp độ hào nhị khi ở ngưỡng của sự đối địch là có thể chiến thắng. Còn khi hào nhị của quẻ Thái, chỉ sự phồn thịnh, có khả năng “chọn lựa từ xa, và cho tới vùng biên chưa được khai hóa (hào ngũ – âm), hào nhị này của quẻ , chỉ sự tàn lụi, chỉ có khả năng “chọn lựa” cái khác (hào ngũ – dương ở dưới) nếu “chịu quy phục nó”. Sự trái ngược của “thông tin” có trước không phải là không có thông tin mà là một thông tin được tạo ra với nghĩa ngược lại: ta nhìn thấy vì sao vấn đề cái ác, ngay từ khi được đề cập, thường đi vòng vo. Bởi vì quan hệ còn lại tương đương như trong quẻ ngược lại, chỉ có viễn cảnh đã thay đổi: quan điểm để tính toán không còn, cũng như trong trường hợp quẻ Thái, quan điểm về thượng thống trị hạ, còn hạ trở nên phụ thuộc vào thượng. Vậy, theo tư tưởng Trung Hoa, một quan hệ phối thuộc như vậy chỉ có thể hữu ích với hạ khi hạ quy thuận, và bởi vậy, hào này được coi là “cát” cho “kẻ hèn hạ”; đối với người quân tử, trái lại, theo cái mà Vương Phu Chi hiểu về hình thức này, sự quy phục của kẻ hạ tiện qua sự nhìn nhận của nó là không có khả năng “thay đổi sự cản trở” của tình huống trong đó nó “giữ vị trí để thăng”. Như vậy, khi khát vọng được khẳng định tại hào nhị của quẻ Thái, quẻ chỉ sự phồn thịnh, nó không hề tiếp giáp với quan hệ tương tự (nhưng hướng thượng để gặp cái kia), nó trở thành trái ngược với ba hào dương của quẻ , chỉ sự tàn tạ, lời hào từ của hào nhị này cho ta biết là không để “xáo trộn” sự nhất trí tốt đẹp giữa chúng, bằng cách đổi hướng nhờ quan hệ bên ngoài này, và thấp hơn, cùng với âm được gắn bó với nhau để bảo tồn “Đạo”.

Sự đảo ngược đóng vai khá tốt giữa hai quẻ này – nhưng trong thực tế không đối lập giữa chúng. Tất nhiên, nó là có thể bằng cách gian lận giữa cái hài hòa và cái giá của một sự mập mờ nhất định. Bởi vì làm sao có thể nghĩ rằng kẻ hèn mọn, ngay cả khi, Vương Phu Chi nói, hắn đạt được một “vị trí” trong thế giới và “thực hiện những tham vọng của mình”, “có thể đồng thời quy phục dương”, biểu tượng của người quân tử, và “đồng thuận với nó” – mà từ đó có thể đi ra cái “cát” cho ông ta chăng (tiểu nhân đắc vị hành chi, nhi năng thừa thuận dương nhi chi cát hĩ)? Hay, để có thể cụ thể hơn và nắm bắt được điểm mấu chốt từ đó chuyển dần sang, có nghĩa là “đồng thời như vậy” (nhi) mà ở đây liên kết tạo ra công thành danh toại làm phấn chấn kẻ hèn mọn, đồng thời là thù địch, và khả năng tiếp nhận đối với nó khi quy phục cái Thiện và để tạo ra trật tự? Rất rõ ràng, trong mọi trường hợp, rằng, theo logic mà Thoán từ  đưa ra từ đầu cuốn sách, từ “cát” (cát) không có nghĩa là cái có thể thuận lợi cho kẻ hèn mọn theo quan điểm cá biệt mà là của nó (khi đó nó có khả năng, nhờ thắng lợi tạm thời của nó, áp chế người quân tử), nhưng cái mà nó đạt tới khi đó (quy phục bậc quân vương “cùng lúc” nó nhận được một vị thế) là thuận lợi cho toàn cục và mang ý nghĩa của Tiến trình phát triển. Nói cách khác, “cát” cần phải có nghĩa gắn với hành vi “tích cực”; và nó còn có nghĩa là sự chiến thắng cái ác của kẻ tiểu nhân khi nó được thực hiện trong cái khả năng biết hướng thiện và hòa nhập của cái thiện. Cho nên viễn cảnh của cái Thiện, được sự hỗ trợ này, vẫn bao hàm và làm chủ. Còn tư tưởng về cái sẽ khuyến khích cái ác tự thân, mở rộng ra khi đưa vào trong ý nghĩa của nó, khi đó, nó hoàn toàn bị loại bỏ. Kể cả khi người ta vẫn nghi ngờ…

Cho nên khá nhẹ nhàng, không phải la lối cuốn xéo đi bởi đây là sự phủ nhận bị cắt xẻ. Nhưng sự hỗ trợ này mở ra một cách kín đáo, được che đậy bằng chuẩn quy tắc riêng, trong thực tế lại là một sức mạnh; theo đó cái ác không bao giờ được xem xét từ góc độ chỉ riêng nó. Trong thực tế, đối với người Trung Hoa, xuất hiện lối tư duy rằng cái ác không tạo ra bất cứ một góc nhìn nào, nếu nó không mở ra viễn cảnh về cái không gì cả, và vì vậy nó trở nên dễ dàng bị tiêu tan. Người ta còn kiểm tra bằng cách nắm giữ mọi sự mở rộng có thể khi luôn luôn xem xét nó với cái bên ngoài, mở rộng ra là với viễn cảnh duy nhất của cái Thiện, đối với hào tiếp theo, vốn được tập trung phù hợp với thời kỳ, cái giáp là mạnh nhất. Lời giải đoán được đưa ra bằng cách hiểu ngắn gọn: “bao quát – xấu hổ”, “Bao quát” cho thấy, ngay ở giai đoạn này, sự thông tin giữa hai cực, Thượng và Hạ, được giữ vững; và “xấu hổ” chắc chắn là cách nhìn của người quân tử đối với kẻ hèn mọn: mối quan hệ xấu hổ này, có riêng sức mạnh, là cái mà kẻ tiểu nhân dự tính đưa ra với người quân tử bằng cách xu nịnh. Nhưng, cũng như nó “không ở vị trí của nó” (hào âm trong chỗ của hào dương, được Thoán từ ghi nhận), ý muốn của nó nhằm liên kết với quẻ khác là không được quan tâm.

Đến đây sự phản ánh tính chất phủ định của “giáng” kết thúc, sự phản ánh này nhìn tổng thể vẫn còn rất hạn chế bởi nó không bao giờ được đưa ra như là nguyên nhân logic toàn cục của tiến trình. Với ba hào ở phần trên của quẻ, khả năng của dương đóng vai trò khởi động, giáng thì ngược lại và trật tự lại được tìm ra. Ngay từ hào tứ, thực tế, sự thông tin giữa các cực, các quẻ đơn, được lập ra một cách nghiêm chỉnh: lời giải đoán đối với nó lại gợi lên “hạnh phúc” khi tương tác với kẻ đồng hành của nó (nghĩa của chou, theo Vương Phu Chi), trong trường hợp này vốn là hào sơ; và về mặt đạo đức “đáng ngờ”, khi tiếp xúc đầu tiên, mà “người quân tử” (được thể hiện bằng dương) không mấy ngần ngại khi đi về phía gặp gỡ với “kẻ hèn mọn”, được thể hiện bằng âm, hào này được tuyên bố không ít lần “khiếm khuyết”. Bởi vì không phải nó vận động chỉ bằng sự khởi nguyên của nó và vì sở thích của nó mà, như đã chỉ ra trong Thoán từ, “về trật tự” vốn được giao cho hào tiếp theo ở vị thế chủ đạo: nhiệm vụ của nó là, như một người lãnh đạo tốt, đi tới “giản lược tính phủ định” (tiêu kì bĩ) khi lôi hào sơ này ra từ “một nhóm” các hào âm nơi nó có chỗ, mặc dầu vậy, được vận dụng. Trong thực tế, ta nhớ lại rằng hào sơ âm này khao khát tiếp cận từ góc độ “bao quát” và không bị khiếm khuyết như hai hào tiếp theo. Nó thể hiện, Vương Phu Chi nói, trường hợp của những người trẻ tuổi vốn, trong các thời kỳ hỗn loạn, “không thể thoát khỏi chính bản thân”: “nếu bị thúc ép, họ sẽ có một kết cục xấu”; còn khi, nếu họ được dẫn dắt vào con đường đúng đắn, họ sẽ biết tạo ra tiến bộ tiếp theo. Bài học dùng để suy tư về bình diện chính trị là chủ yếu. Sự cố chấp, thực ra, là đáng sợ, dẫu nó có bộ mã đẹp đẽ: bởi vì khi đoạn tuyệt một cách dứt khoát giữa cái tốt và cái xấu, nó cản trở mọi khả năng phát triển, dẫn tới cái xấu trở thành thâm căn cố đế và tình hình không thể xoay chuyển được.

Hào ngũ là mặt trái của hào nhị; một cái là “cát” đối với “kẻ hèn mọn”, cái khác là “cát” đối với “quân tử”. Cái này đưa ta bước vào thời kỳ thù địch, cái kia hướng dẫn ta thoát ra. Cho dù Vương Phu Chi không hiểu được sự thể hiện khởi đầu khi đề cập đến hào này theo ý nghĩa, rất táo bạo để chấp nhận, để “dừng” sự tiêu tan (giáng); còn với nghĩa để giữ lại “sự nghỉ ngơi”, “yên tĩnh”, trong lòng của sự tiêu tan hay của giáng (xiu được hiểu từ bình diện không quan hệ – hưu bĩ, khả năng trao cho hào này được giữ nguyên: cho dù trong thời kỳ thù địch, nhà minh triết là rất điềm tĩnh nhờ toàn án lương tâm của ông ta; và tương tự nếu hiểm họa đe dọa, bởi vì ông ta đã lấy lại quyền uy (nhờ vị thế quân vương mà ông ta tranh thủ được bằng sự tiến thân của mình), tính kiên trì là chỗ dựa của ông. Còn khi hình ảnh được đưa ra từ đầu các quẻ này là hình ảnh của khóm thiếu thảo hay của đám cói mà ông “nhổ được”, hình ảnh mà qua đó kết thúc quẻ này là hình ảnh về khóm cây dâu, vốn có rễ rất sâu, với nó ông ta “gắn bó”. Bậc minh giả bị cột chặt vào thực tế bằng năng lực của ông ta, và rất bền vững.

Hào cuối cùng, khi ấy, không còn đưa ra sự tổng hợp về sự phát triển này: đây là hào “đảo lộn” (khuynh) của cái phủ định. “Trước hết là sự tiêu tan, sau đó là niềm vui”, Thoán từ đã chỉ ra như vậy. Ở giai đoạn này, Vương Phu Chi kết luận hào dương được đề rất cao trong quẻ để chịu đựng sự can thiệp ít nhiều của âm, và các hào trước đó đã chuẩn bị khá đủ cho “sức mạnh” của nó để tấn công. Bởi thế, ở giai đoạn này, sự tiêu tán được htực hiện bởi ba hào âm được “phản ánh rất đầy đủ” và cũng “không còn sức mạnh”; và “sự xấu hổ” gắn chặt vào đây qua các hào âm này tự phô bày ra trước mắt mọi người. Bọn tiểu nhân dốc hết mọi mưu mô vặt vãnh để chúng chiếm giữ quyền lực: sự lật đổ của chúng là “dễ dàng” khi mà tình thế đã sẵn sàng và khi đó “sự hài lòng” là phổ biến.

Sự đảo ngược của cái tiêu cực ở hào lục của quẻ Bĩ, chỉ sự tàn tạ, là sự đảo ngược chính xác “bức tường” để “quay lại hào rãnh” của hào cuối cùng của quẻ Thái, chỉ sự phồn vinh. Đồng thời chúng phù hợp với hai thời điểm đối lập của sự diễn tiến của quá trình vận hành, các hào – bản lề này đảm bảo cho chúng, việc chuyển dời từ hào này sang hào khác: Từ thăng tới giáng và từ giáng đến thăng lần nữa. Cho nên, khó mà có thể đặt ra vấn đề quy tắc của tiến trình, sự phản ánh cái tiêu cực phục vụ cho sự tiếp diễn của nó, cho phép nó đi tới việc đổi mới. Sự tiếp diễn mà không tiến bộ: một sự thể hiện như vậy là không “biện chứng”. Và từ các quẻ khác sẽ có sự đan xen vào giữa các pha trái ngược của thăng và giáng để tính toán một cách cụ thể sự chuyển đổi vĩnh cửu này.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: François Jullien – Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về Kinh dịch – NXB ĐN 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s