Hệ thống đảng phái thứ năm: Liên minh Chính sách mới

Không gì có thể minh họa rõ nét cho sự đa dạng của các liên minh đảng phái Mỹ hơn liên minh Chính sách mới (New Deal), một liên minh đã tập hợp được tất cả những người Dân chủ với mọi xuất xứ khác nhau. Nó đã thống nhất được những người phân biệt chủng tộc da trắng ở miền Nam với những người Mỹ gốc Phi ở miền Bắc (hầu như chưa có mấy người Mỹ gốc Phi ở miền Nam có quyền bỏ phiếu), các nhà trí thức cấp tiến với các chính trị gia thuộc bộ máy đảng phái, các thành viên nghiệp đoàn cùng gia đình của họ với những người nông dân nghèo nhất, những người Thiên chúa giáo La Mã với những người theo dòng tu Baptist ở miền Nam. Các nhóm khác biệt nhau này đã thống nhất ở chỉ một điểm – bầu cho những người Dân chủ – song với những lý do rất khác nhau để làm điều đó.

Một số người bị thu hút bởi các chính sách mới của Roosevelt – những chính sách mà trong cố gắng nhằm khắc phục hậu quả tồi tệ của cuộc Đại suy thoái, đã mở rộng một cách chưa từng thấy trách nhiệm cũng như thẩm quyền của chính phủ liên bang đối với phúc lợi kinh tế và xã hội của mọi người dân Mỹ. Đạo luật Wagner năm 1935, được biết đến như là “đạo luật về các quyền” của người lao động có tổ chức, đã thu hút được sự ủng hộ của các nghiệp đoàn. Các chương trình xây dựng công trình công cộng lôi kéo được những người nghèo và người thất nghiệp, bao gồm cả những người Mỹ gốc Phi ở miền Bắc (mà từ trước tới giờ vẫn ủng hộ đảng của Lincoln), và mang lại sự bảo trợ cho các bộ máy đảng phái ở thành thị. Các chương trình hỗ trợ nông nghiệp huy động được phiếu bầu của những cử tri nghèo khổ ở nông thôn. Các trí thức cấp tiến hoan nghênh việc chính phủ liên bang tăng cường vai trò của mình đối với phúc lợi kinh tế của người dân. Việc thông qua các hệ thống An sinh xã hội và Bảo hiểm thất nghiệp giành được sự ủng hộ của người công nhân – những người mà tình trạng không bảo đảm về kinh tế đã trở nên rất nặng nề do cuộc Đại suy thoái.

Các nhóm còn lại vốn là mộ tbộ phận của liên minh Dân chủ theo truyền thống. Những người da trắng bảo thủ miền Nam vẫn luôn gắn bó về mặt chính trị với Đảng Dân chủ kể từ cuộc Nội chiến. Những người Thiên chúa giáo La Mã, vốn nghiêng về phía những người Dân chủ (chủ nghĩa vị bản xứ chống người Thiên chúa giáo phần nào là di sản của những người Mỹ “Không biết” thuộc phe Cộng hòa), đã chiếm đa số vào năm 1928, khi Al Smith, người đầu tiên thuộc dòng Thiên chúa giáo La Mã được chọn là ứng cử viên tổng thống của một đảng đa số. Họ ủng hộ Đảng Dân chủ một phần còn là do những người Dân chủ đã giữ cam kết về việc hủy bỏ Luật cấm rượu. Những thành viên tham gia vào phong trào Cấm rượu chủ yếu là người Tin lành, có tư tưởng chống người Thiên chúa giáo và chống người nhập cư rất rõ rệt. Những người Do Thái trong các thành phố ở miền Đông và Trung Tây vốn đã từng ủng hộ Smith, để đáp lại những phản ứng dữ dội của những người Tin lành tại các thành phố nhỏ và vùng nông thôn trước việc ông được đề cử, và vẫn ủng hộ những người Dân chủ trong thời kỳ cầm quyền của Roosevelt – một kẻ thù cứng rắn ngay từ đầu của phát xít Đức.

Liên minh Cộng hòa đối lập là một hình ảnh trái ngược nhỏ hơn của liên minh Dân chủ: các doanh nhân và nhà chuyên môn, những người Tin lành da trắng có thu nhập cao, cư dân của các thị trấn nhỏ và các thành phố ở đông bắc và trung tây, và những người thuộc phe bảo thủ về tư tưởng. Liên minh này thống nhất về điều mà nó chống lại: các chương trình Chính sách mới của Roosevelt và bộ máy hành chính liên bang được mở rộng rất nhiều mà các chương trình này có khả năng tạo ra, điều mà những người Cộng hòa rêu rao là bất hợp hiến, không khôn ngoan, và phi Mỹ.

Sự suy yếu của Liên minh Chính sách mới. Đặt sang bên những phức tạp của hoạt động chính trị liên minh, cuộc chạy đua bầu cử toàn quốc trong suốt kỷ nguyên Chính sách mới được tổ chức xung quanh một câu hỏi duy nhất: bạn ủng hộ hay chống lại Chính sách mới? Chừng nào câu hỏi này vẫn là trọng tâm thì liên minh Chính sách mới vẫn tồn tại. Nhưng khi các vấn đề mới trở thành tâm điểm của nền chính trị bầu cử, liên minh Dân chủ bắt đầu phân tán. Những người Cộng hòa đã để các vấn đề mới định hình nền chính trị bầu cử bằng cách công nhận rằng những chương trình chủ chốt của Chính sách mới cần được giữ nguyên; một đảng đã từng chiếm đa số trong toàn quốc không cam chịu mất đi vị thế của mình mãi mãi. Khi Đảng Cộng hòa cuối cùng đã giành lại được Nhà trắng vào năm 1952 (sử dụng chiến thuật của Đảng Whig trước đây là đề cử một anh hùng quân sự, Tướng Dwight Eisenhower), nó không còn dựa trên tiền đề hủy bỏ Chính sách mới, mà là quản lý các chương trình của Chính sách mới một cách hiệu quả hơn. Một khi vấn đề này đã được giải quyết, các vấn đề khác sẽ được đưa lên hàng đầu.

Vấn đề đầu tiên và quan trọng nhất trong số này là các quyền công dân dành cho người Mỹ gốc Phi. Khi Đảng Dân chủ trở thành đảng ủng hộ các vấn đề dân quyền, những người da trắng miền Nam bắt đầu xa lánh họ. Cũng lúc đó, cuộc chiến tranh ở Việt Nam cũng chia rẽ những người Dân chủ, chủ yếu là theo đường ranh giới giai cấp một cách sai lầm. Các chính trị gia thuộc bộ máy đảng phái và các nhà lãnh đạo lao động, những người mà giới cử tri cổ cồn xanh của họ là nguồn cung cấp binh lính chủ yếu, nhìn chung ủng hộ cuộc chiến, cũng giống như phần lớn người Dân chủ miền Nam. Phe đối lập được lãnh đạo bởi các trí thức tự do, và tập trung được số lượng đông đảo các tầng lớp ưu tú tại trường đại học. Những cuộc tranh cãi mới về ranh giới của các hành vi xã hội chấp nhận được đã làm sâu sắc thêm sự chia rẽ này, khi các vấn đề tự do tình dục, sự khiêu dâm, nạo phá thai, quyền của phụ nữ và quyền của người đồng tính trở thành vấn đề nóng bỏng của chính trị.

Giới cử tri Dân chủ truyền thống cũng bị chia rẽ xung quanh các sáng kiến kinh tế mới. Những chương trình Xã hội vĩ đại được thông qua trong nhiệm kỳ của Lyndon Johnson (1963 – 1969) không có được phạm vi bao quát rộng như của Chính sách mới. Các chương trình chủ chốt trong Chính sách mới – An ninh xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp, và Chăm sóc ý tế cho người khó khăn (một chương trình theo kiểu Chính sách mới, mặc dù mới chỉ được ban hành vào năm 1965) – phục vụ cho những nhóm đa số có vai trò tích cực trong chính trị. Còn những chương trình Xã hội vĩ đại – trợ cấp nhà ở, dinh dưỡng cho trẻ em ở trường, Head Start (đào tạo việc làm), tem phiếu lương thực, và Chăm sóc y tế cho người cao tuổi – chỉ phục vụ một thiểu số thờ ơ với chính trị: người nghèo. Đối với rất nhiều người Dân chủ thuộc tầng lớp trung lưu và lao động, Chính sách mới là vì “chúng ta”, còn Cuộc chiến chống đói nghèo của Xã hội vĩ đại là vì “họ”. Những chi phí của các chương trình này ngày càng nặng nề khi tăng trưởng kinh tế chậm lại vào những năm 1970, làm tăng sự phản đối đối với thuế khóa. Một vấn đề mới – bảo vệ môi trường – cũng tạo ra tình huống tiến thoái lưỡng nan cho những người Dân chủ, đặt những việc làm thuộc lĩnh vực cổ xanh (hoặc hoạt động giải trí) đối lập với lợi ích về sức khỏe và cảnh quan mà các nhà môi trường thuộc tầng lớp trung lưu đang tìm kiếm.

Những người Cộng hòa, mặc dù không đa dạng bằng địch thủ của mình, song cũng không tránh khỏi một số chia rẽ nghiêm trọng trong đảng của mình. Phe bảo thủ và ôn hòa đấu tranh để giành quyền lãnh đạo đảng từ suốt thời kỳ Chính sách mới cho tới tận những năm 1980. Những người bảo thủ nắm quyền chi phối trong đảng quốc gia vào năm 1964, đề cử một trong những người thuộc phe họ, Thượng nghị sĩ Barry Goldwater của bang Arizona, làm ứng cử viên tổng thống. Lá phiếu chống lại Đạo luật về các quyền dân sự năm 1964 đã giúp ông giành được sự ủng hộ của những người phân biệt chủng tộc ở miền Nam, song lại khiến những người ôn hòa trong đảng của ông xa lánh, cũng giống như sự phạn đối kịch liệt của ông đối với các chương trình chủ yếu của Chính sách mới. Thất bại thảm hại của ông đã khiến cho đảng lâm vào khủng hoảng tạm thời. Tuy nhiên, nó đã nhanh chóng phục hồi bằng cách lợi dụng sự chia rẽ sâu sắc trong liên minh Dân chủ để giành thắng lợi tại năm trong số sáu cuộc bầu cử tổng thống tiếp theo đó.

Các ứng cử viên của Đảng Cộng hòa kể từ Richard Nixon đã xây dựng các liên minh chiến thắng bằng cách kết hợp những người bảo thủ về kinh tế giàu có với những người bảo thủ về xã hội thuộc tầng lớp trung lưu và lao động, đặc biệt là từ nhóm được gọi là Quyền của người Thiên chúa giáo mới. Để thu hút những người bảo thủ về kinh tế, Đảng Cộng hòa đã tuyên bố chống lại thuế khóa, điều tiết, và phúc lợi xã hội; để giành được sự ủng hộ của những người bảo thủ về xã hội, họ đã đưa ra các luật lệ và quy định, chủ nghĩa yêu nước (sự chống đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã khiến những người Dân chủ dễ bị tổn thương ở điểm này), và “các giá trị gia đình truyền thống”, hàm ý một đạo luận cấm nạo phá thai, thúc đẩy việc cầu nguyện tại các trường học công, và tăng cường mối quan tâm đối với các quyền dân sự của người da trắng. Những liên minh này cũng không đoàn kết hơn là mấy so với liên minh của Đảng Dân chủ. Rất nhiều người bảo thủ về kinh tế giàu có không bị thu hút bởi chương trình nghị sự xã hội của nhóm Quyền của người Thiên chúa gió mới, và rất nhiều người bảo thủ về mặt xã hội có thu nhập khiêm tốn lưỡng lự trước những thiệt thòi mà một thị trường tự do không được điều tiết có thể mang lại cho họ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s