Jun Nishikawa

Những nước châu Á – Thái Bình Dương đã từng chứng kiến một sự tăng trưởng kinh tế cao trong những năm 1990 lại phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng kinh tế 1997 – 1998. Cuộc khủng hoảng kinh tế trùng hợp với một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về môi trường. Hai cuộc khủng hoảng này là minh chứng cho sự thất bại của nền kinh tế thị trường và của chính sách toàn cầu hóa về kinh tế do các doanh nghiệp đa quốc gia cùng với Mỹ và một số tổ chức quốc tế như IMF phát động trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XX. Để cho các nước châu Á có được sự phát triển bền vững, cần phải thiết lập được chủ quyền của sự vận động dân cư, của xã hội công dân, thông qua việc thực hiện sự phát triển nội sinh ở mỗi khu vực. Phong trào này tạo thành một kiểu toàn cầu hóa khác, toàn cầu hóa về ý thức. Cuộc đấu tranh giữa hai kiểu toàn cầu hóa đó sẽ quyết định trật tự của thế giới và của khu vực trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI.

Lời nói đầu

Từ những năm 1970, các nước châu Á đã có được một sự tăng trưởng kinh tế mà tỉ lệ trung bình hàng năm là từ 7% đến 8%. Đầu những năm 1990, họ thường khoe khoang bằng những khẩu hiệu kiểu như “Thế kỷ XXI là của châu Á”. Tuy nhiên, những nước nào ở Đông Nam Á và Đông Á đã làm được như vậy thì hiện đang là miếng mồi của cuộc khủng hoảng tiền tệ và tài chính trong hai năm qua. Phần lớn các nước trong khu vực đang phải gánh chịu không những sự trì trệ về kinh tế, mà cả những hậu quả của những khó khăn đủ loại.

Bên cạnh cuộc khủng hoảng kinh tế là cuộc khủng hoảng về môi trường những đám mây khói đã tàn phá một phần lớn Indonesia, Singapore và Malaysia, hai bên bờ eo biển Malacca. Năm 1998, sau mùa mưa, những đám mây này lại xuất hiện ở đảo Sumatra và đảo Kalimantan ở Indonesia, cũng như ở phía đông Malaysia, điều này cho ta thấy môi trường bị tàn phá trầm trọng đến mức nào. Hai cuộc khủng hoảng đang giáng xuống châu Á lúc này bắt nguồn từ chính sách toàn cầu hóa nền kinh tế. Cả hai có một nguyên nhân chung là mở rộng nền kinh tế thị trường. Cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á không gì khác là cuộc khủng hoảng của “sự phát triển bền vững”. Mục tiêu của chúng tôi ở đây là chứng minh được điều đó.

Thứ nhất là, chúng tôi tìm kiếm những nguyên nhân của sự phá hủy môi trường, bằng chứng là sự xuất hiện những đám mây khói ở Đông Nam Á chẳng hạn. Cuộc khủng hoảng này chỉ là mặt khác của sự tăng trưởng mà Nhà nước và các công ty đa quốc gia khởi xướng.

Thứ hai là, chúng tôi cố gắng chứng minh rằng cuộc khủng hoảng tiền tệ, tài chính và kinh tế, cũng như sự phá hủy môi trường mà một trong những khía cạnh của nó đã thể hiện qua những đám mây khói được nói ở trên, bắt nguồn từ hệ thống kinh tế mà đặc điểm là Nhà nước lãnh đạo, coi sự phát triển và lợi ích của các công ty là mục tiêu tối thượng. Một sự tăng trưởng mạnh đã phá hủy những mối quan hệ xã hội và tạo dễ dàng cho sự phân chia của cải bất bình đẳng giữa các nhóm xã hội cũng như giữa các khu vực, khiến cuộc khủng hoảng kinh tế càng thêm trầm trọng.

Thứ ba là chúng tôi muốn nghiên cứu phong trào bảo vệ môi trường và những người khởi xướng của phong trào này ở châu Á, đồng thời chúng tôi cố gắng chỉ ra rằng tình trạng của môi trường phản ánh tình trạng của xã hội. Mục tiêu của chúng tôi, thông qua sự khảo sát này, là muốn chứng minh rằng một sự tăng trưởng mạnh dưới sự lãnh đạo của Nhà nước và các công ty đa quốc gia ở châu Á trong bối cảnh toàn cầu hóa đã ngầm phá hủy những cơ sở của sự cân bằng sinh thái và những mối quan hệ xã hội. Vào đầu thế kỷ XXI sắp tới các nước châu Á đang nằm trong thời kỳ quá độ: thời kỳ tăng trưởng mạnh dưới sự lãnh đạo của Nhà nước gắn với quá trình toàn cầu hóa do các doanh nghiệp đa quốc gia chủ trương đã phải đương đầu với những thất bại của chính mình: những vấn đề xã hội và môi trường. Toàn cầu hóa một cách tự do với sự khuyến khích của các tổ chức quốc tế IMF và Ngân hàng Thế giới (WB) sẽ làm trầm trọng thêm những vấn đề này.

Mặt khác, nhân dân các nước châu Á đang ở trong giai đoạn mà xã hội công dân tái sinh đi tìm quyền tự chủ của riêng mình cũng như bản thể của mình: đó chính là cái mà người ta có thể gọi là phong trào phát triển nội sinh. Về bản chất, phong trào này gắn với một kiểu mẫu khác của toàn cầu hóa: toàn cầu hóa xã hội công dân.

Vào đầu thế kỷ XXI, khi mà khu vực hóa nền kinh tế thế giới tiến triển trong bối cảnh toàn cầu hóa, mở đầu bằng sự hội nhập mạnh mẽ hơn của Liên hiệp châu Âu với việc thông qua đồng euro, đồng tiền duy nhất của nó, thì các nước châu Á  phải đứng trước một sự lựa chọn: hoặc là họ phải gắn bó hơn nữa với quá trình toàn cầu hóa một cách tự do mà các doanh nghiệp đa quốc gia lớn chủ trương, hoặc phải gắn với quá trình toàn cầu hóa xã hội công dân là cái mang đến một giá trị đoàn kết mới trong quan hệ quốc tế.

Trong bài này, chúng tôi muốn gợi ý rằng chính con đường thứ hai sẽ là con đường có thể mang lại một kiểu phát triển mới cho các quốc gia ở châu Á vào những thập kỷ đầu thế kỷ XXI.

1/ Những đám mây khói và tình trạng nguy kịch của nền kinh tế và xã hội châu Á

Tháng 5 năm 1997, một phần lớn Malaysia, Singapore và Indonesia bị bao phủ bởi một lớp khói mù dày đặc, kéo dài khoảng 6 tháng: trong những thành phố lớn thậm chí người ta không thể nhìn thấy một tòa nhà cách chừng vài trăm mét: người ta phải hoãn hết chuyến bay này đến chuyến bay khác; cuối tháng 9, một chiếc máy bay của hãng Garuda Airlines đã nổ tung tại đảo Sumatra, gần như tất cả đội bay và hành khách đều chết trong tai nạn khủng khiếp này. Những thảm họa không chỉ hạn chế trên bầu trời. Dưới mặt đất cũng không kém, những tai nạn giao thông thường xuyên xảy ra. Người ta cho biết rằng đã có hơn 500 nghìn người bị đau mắt, viêm họng, viêm phế quản đã phải vào nằm viện, chỉ riêng ở Malaysia, trong thời kỳ có những đám mây khói. Nhiều đội cứu hỏa từ khắp nơi đã được mời đến, bắt đầu là Malaysia và Nhật Bản, cùng phối hợp với dân địa phương và quân đội để dập tắt các đám cháy, nhưng đã vô ích. Khói mù đã gây ra những tổn thất chưa từng có về kinh tế và mạng sống của con người ở các nước Đông Nam Á. Vào tháng 11 và tháng 12, mùa mưa tuy đến chậm những cuối cùng đã dập tắt được những đám mây này. Tuy thế, đất than bùn vẫn tiếp tục cháy. Khói mù lại một lần nữa bốc lên từ tháng giêng năm 1998 ở đảo Sumatra và đảo Kalimantan.

Việc phát rẫy để mở rộng trồng cây cọ lấy dầu ở Sumatra và ở Kalimantan chính là nguồn gốc của những tổn thất về môi trường như vậy. Chính phủ Indonesia đã công bố tên của 273 công ty có trách nhiệm và yêu cầu họ phải ngừng ngay kế hoạch này. Trong thực tế, đó không chỉ là những doanh nghiệp tư nhân, mà ngay cả những trang trại của nhà nước cũng đua nhau mạnh ai nấy sử dụng kỹ thuật nương rẫy để mở rộng canh tác.

Sở dĩ các trang trại ở Indonesia lao vào việc mở rộng trồng cây cọ là vì giá thị trường của loại nguyên liệu này lúc đó đang lên cao. Dầu cọ dùng để sản xuất ra margarine, xà phòng, mỹ phẩm, dầu ăn và dầu bôi trơn; nhu cầu tăng chứng tỏ mức sống tăng. Năm 1995, chính phủ Indonesia đề ra phương hướng chỉ đạo là tăng gấp đôi sản lượng cọ thời kỳ 1996 – 2000, dẫn tới sự bùng nổ việc mở rộng canh tác. Các công ty và các trang trại đã đốt núi để tiết kiệm công sức phá rừng. Lửa đốt núi đã lan truyền trong đất than bùn khiến cho việc dập tắt rất khó khăn. Thêm vào đó là nạn hạn hán do hiện tượng El Nino gây ra.

(còn tiếp) 

Người dịch: Quang Lung

Nguồn: Jun Nishikawa – L’economie d’Asie – Pacifique: perspective au début du XXIe siècle – quelle mondialisation peut-elle apporter au “développement durabel” – “Economies et Sociétés”, Hors Série, No.36, 11 – 12/1999, p. 9 – 27.

TN 2000 – 96 & 97

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s