Bằng một ít hồ sơ lịch sử mà chúng tôi có thể tìm thấy và cách tự lấp các lỗ hổng bằng nghiên cứu thực nghiệm riêng của mình, chúng tôi đã lần mò đường đi của mình qua các thế giới ngoài pháp luật và cuối cùng chúng tôi đã học được cách tiếp xúc với các khế ước xã hội, những cái tạo nền tảng cho các quyền sở hữu ở đó. Khám phá ra những thỏa thuận này chẳng có gì giống với tìm kiếm các bằng chứng của quyền sở hữu trong một hệ thống pháp lý chính thức, nơi có thể dựa vào một hệ thống lưu trữ hồ sơ mà qua nhiều năm đã tạo ra một dấu vết trên giấy, một “chuỗi xích chứng thư”, cho phép tìm ra nguồn gốc của nó. Trong khu vực được vốn hóa thấp, chuỗi xích chứng thư, may lắm, cũng rất mờ nhạt đối với người ngoài. Khu vực được vốn hóa thấp không có, trong những thứ khác, bộ máy đăng ký, lưu trữ và theo dõi hồ sơ, bộ máy phải có ở trung tâm của một xã hội có thể thức. Cái mà những người dân trong khu vực được vốn hóa thấp thật sự có là những hiểu biết mạnh mẽ, rõ ràng và chi tiết giữa họ với nhau về ai sở hữu cái gì ngày hôm nay.

Vì vậy, cách duy nhất để tìm ra khế ước xã hội ngoài pháp luật về quyền sở hữu ở một khu vực cụ thể nào đó là tiếp xúc với những người sống và làm việc ở đó. Nếu quyền sở hữu giống như một cái cây, thì hệ thống quyền sở hữu chính thức là lịch đại (diachronic), theo nghĩa nó cho phép lần theo dấu vết để tìm ra nguồn gốc của mỗi chiếc là từ nhánh của cành đến thân và cuối cùng đến gốc. Cách tiếp cận đến quyền sở hữu ngoài pháp luật phải có tính đồng bộ: cách duy nhất mà một người ngoài có thể xác định những quyền nào thuộc về ai là đi cắt lát cái cây ở một góc thích hợp với thân cây để xác định trạng thái của mỗi cành và lá trong quan hệ với xung quanh của nó.

Để nhận được thông tin đồn gbộ, cần điều tra thực địa: đi trực tiếp đến các khu vực mà quyền sở hữu không được đăng ký chính thức (hoặc được đăng ký và lập hồ sơ một cách không chính đáng) và tiếp xúc với các nhà chức trách hợp pháp và ngoài pháp luật ở địa phương để tìm ra những thỏa thuận quyền sở hữu là những gì. Điều này không khó như nó có vẻ. Mặc dù truyền thống truyền miệng có thể chiếm ưu thế ở những vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh của một số nước, hầu hết người dân ở các khu vực đô thị được vốn hóa thấp đã tìm ra những cách để biểu diễn quyền sở hữu của họ bằng văn bản theo các quy tắc mà họ tôn trọng và chính phủ, ở một số cấp, buộc phải chấp nhận.

Thí dụ, ở Haiti, không ai tin rằng chúng tôi sẽ tìm thấy các hồ sơ xác định những biểu thị của các quyền sở hữu. Haiti là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới; 55% dân số m2u chữ. Tuy nhiên, sau một khảo sát chuyên sâu các khu vực đô thị Haiti, chúng tôi không thấy một lô đất, lều, hoặc tòa nhà ngoài pháp luật nào mà chủ của nó lại không có ít nhất một tài liệu để bảo vệ quyền của mình – ngay cả “các quyền chiếm đất” của anh ta. (Xem hình 6.2 về một phần của các chứng thư sở hữu phi chính thức ở Haiti). Ở mọi nơi chúng tôi đã đến trên thế giới, hầu hết những người phi chính thức đều có một số vật nhân tạo nào đó để biểu diễn và chứng minh cho yêu sách cảu họ đối với quyền sở hữu. Và chính trên cơ sở của những biểu thị ngoài pháp luật này, cũng như các hồ sơ và các cuộc phỏng vấn, mà ở mọi nơi chúng tôi đều có khả năng chắt lọc ra các khế ước xã hội bảo vệ quyền sở hữu.

Mặc dù các nguồn thông tin ngoài pháp luật để nhận diện các quy ước về quyền sở hữu là quan trọng, nhưng cũng có các nguồn chính thức và hợp pháp. Các nhà chính trị ở trên cao thường hiếm khi có ý thức về mức độ mà theo đó những người ở các cấp hành chính thấp hơn của chính quyền thường xuyên tiếp xúc với khu vực ngoài pháp luật. Các nhà chức trách thành phố, các nhà quy hoạch đô thị, các quan chức vệ sinh y tế, cảnh sát, và nhiều người khác phải đưa ra đánh giá về mức độ bất hợp pháp của các nhóm định cư phi chính thức hoặc các nhóm doanh nghiệp mới mọc lên liên tục khắp các quận của họ. Chúng tôi đã học được cách đọc các tư liệu chính thức ra sao để nhận ra những nơi mà các khế ước xã hội ngoài pháp luật thịnh hành.

Một khi các chính phủ biết phải tìm các biểu thị ngoài pháp luật ở đâu và nhúng tay vào, để mắt đến chúng, họ sẽ thấy sợi chỉ Adriane dẫn tới khế ước xã hội. Các biểu thị là kết quả của một nhóm người cụ thể đã đạt được một sự đồng thuận được tôn trọng, như ai sở hữu tài sản nào và mỗi chủ sở hữu có thể làm gì với nó. Để đọc bản thân các biểu thị và chắt lọc ý nghĩa từ chúng, không cần đến một học vị nào về khảo cổ học. Chúng không chứa các mã số bí ẩn nào đó để phải giải mã. Những người dân, với các chủ ý rất thẳng thắn, thiết thực đã viết ra các tư liệu này để làm rõ một cách tuyệt đối cho tất cả những người có liên quan về những quyền mà họ đòi trên các tài sản cụ thể mà họ kiểm soát. Họ muốn thông báo tính hợp pháp của các quyền của họ và sẵn sàng cung cấp nhiều bằng chứng ủng hộ cho yêu sách của mình ở mức có thể. Các biểu thị của họ chẳng có gì để giấu giếm; chúng được thiết kế để có thể nhận ra chúng là gì. Điều này không phải rõ ràng bởi vì, thật đáng tiếc, khi chúng ta giao thiệp với những người nghèo chúng ta c1o xu hướng lẫn lộn giữa sự thiếu phương tiện lưu trữ hồ sơ tập trung và sự ngu dốt. Như John P. Powelson kết luận một cách đúng đắn trong The Story of Lan (Câu chuyện về đất), là ngay ở các vùng nông thôn nguyên thủy của các quốc gia đang phát triển, bản thân những người dân đã là những người [luật sư] biện hộ hữu hiệu nhất cho chính mình và luôn luôn có năng lực biểu thị bản thân mình một cách thông minh.

Khi các chính phủ có được bằng chứng bằng văn bản về các biểu thị, khi đó họ có thể “tháo rời” chúng ra để nhận diện các nguyên tắc và quy tắc, những cái tạo thành khế ước xã hội. Một khi các nhà cải cách làm việc đó, họ sẽ có những phần chính, quan trọng của luật ngoài pháp luật. Nhiệm vụ tiếp theo là hệ thống hóa chúng – tổ chức chúng trong các quy chế chính thức tạm thời sao cho chúng có thể được khảo sát và so sánh với luật chính thức hiện hành. Mã hóa các hệ thống lỏng lẻo cũng không phải là vấn đề. Thực ra, nó chẳng khác mấy các thủ tục của chính phủ để làm cho các văn bản luật thống nhất phạm vi cả nước (như Luật Thương mại Thống nhất của Hoa Kỳ) hoặc giữa các nước ở phạm vi quốc tế (như nhiều quy tắc bắt buộc được tích hợp do Liên minh châu Âu hay Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tạo ra). Bằng cách so sánh các quy tắc ngoài pháp luật với các quy tắc của luật, các nhà lãnh đạo chính phủ có thể cân nhắc hiệu chỉnh cả hai ra sao để khớp với nhau và sau đó xây dựng một khung khổ điều chỉnh cho quyền sở hữu – một nền tảng chung về luật cho tất cả mọi công dân – cái thật sự hợp pháp và có thể thực thi được bởi vì nó phản ánh cả sự thực hợp pháp và ngoài pháp luật. Đó là con đường cho các quốc gia đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây giải quyết thách thức pháp lý, và đó là cách căn bản mà luật phương Tây đã được xây dựng: từng bước loại bỏ những cái không hữu dụng, không thể thực thi và hấp thu những cái có hiệu lực.

Nếu tất cả những điều này nghe giống như một cuộc phiêu lưu nhân chủng học hơn là cơ sở cho cải cách pháp lý, thì chính là vì tri thức về những người nghèo đã bị độc quyền hóa bởi các học giả, những ký giả, và các hoạt động chính trị xã hội bị xúc động bởi lòng trắc ẩn hoặc tính hiếu kỳ trí tuệ, hơn là bởi những chi tiết thực tế cơ bản của cải cách pháp luật. Vậy các luật sư ở đâu? Vì sao họ không xem xét nghiêm túc luật và trật tự do chính những người trong bọn họ tạo ra? Sự thật là các lậut sư của các nước này thường quá bận rộn trong việc học luật phương Tây và làm thích nghi nó. Họ được dạy rằng, các tập quán địa phương không phải là luật thật mà là một lĩnh vực nghiên cứu lãng mạn, tốt nhất là để cho các nhà nghiên cứu dân gian. Nhưng nếu các luật sư muốn đóng một vai trò để tạo ra các luật tốt, họ phải bước ra khỏi các thư viện luật của mình và đi vào khu vực ngoài pháp luật, nơi là nguồn thông tin duy nhất mà họ cần để xây dựng một hệ thống pháp luật chính thức, thật sự hợp pháp. Bằng cách khảo sát “những luật của dân” này và hiểu lôgích của chúng, các nhà cải cách có thể có cảm giác về cái mà họ cần làm để tạo ra một hệ thống pháp luật tự – thực thi.

Khi họ đã làm xong việc này, chính là lúc các chính phủ đã chạm vào khế ước xã hội. Họ sẽ có thông tin cần thiết để tích hợp những người nghèo và những vật sở hữu của họ vào một khung khổ pháp luật, để cuối cùng giúp họ có thể bắt đầu có một khoản đặt cược trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Nhưng thực hiện cải cách pháp luật sẽ có nghĩa là phá rối hiện trạng. Điều đó làm cho nó trở thành một nhiệm vụ chính trị to lớn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s