El Nino là một hiện tượng tự nhiên, nhiệt độ của nước tăng ở giao điểm của hai dòng hải lưu ngoài khơi Chile: dòng Humboldt đi lên từ phía Nam và dòng nước lạnh (Oyashio) đi xuống từ phía Bắc. Hiện tượng này diễn ra vào dịp Noel với khoảng cách không đều (từ 2 đến 10 năm). Khi gió thổi từ về phía Tây ngừng vì lý do nào đó, thì nước nóng của biển ngừng lại, hậu quả dẫn đến là một sự rối loạn về khí hậu, gây ra mưa lớn ở Bắc Mỹ và hạn hán ở bờ bên kia Thái Bình Dương. Người ta cũng biết rằng hiện tượng này cũng ngăn không cho các sinh vật nổi có thể trồi lên mặt nước, khiến cho cá, nhất là cá trổng trở nên hiếm đi, mà việc đánh bắt loại cá này hết sức quan trọng đối với Peru và Chile. Khi hiện tượng El Nino xuất hiện năm 1997 và năm 1998, nạn hạn hán đã giáng xuống vùng bờ biển đông nam Thái Bình Dương, chẳng hạn như ở Indonesia, mùa mưa đã đến chậm. Nạn đói đã hoành hành ở Papua Newguine.

Nhưng phải chăng El Nino là một hiện tượng thiên nhiên do ngẫu nhiên mà có? Việc phá hủy rừng nhiệt đới một cách nghiêm trọng diễn ra từ vài chục năm nay ở Đông Nam Á. Đặc biệt, ở Philippines (trong những năm 1960), ở Indonesia (trong những năm 1970 và 1980), ở miền Đông Malaysia (trong những năm 1980 và 1990), tỉ lệ phần trăm rừng che phủ của những nước này đã bị giảm đi một cách nhanh chóng do việc lấy gỗ để xuất khẩu. Hạn hán, lụt và đất sói mòn diễn đi diễn lại trong vùng từ những năm 1970. Bộ trưởng nông nghiệp Indonesia đã khẳng định rằng những đám mây khói là do hiện tượng El Nino sinh ra. Trong thực tế, chính việc khai thác gỗ của nước này, trước đây đã được đẩy mạnh đáng kể, nhất là tại hai hòn đảo Sumatra và Bornéo, cho mãi đến năm 1985 khi chính phủ Indonesia cấm khai thác gỗ, đã góp phần gây nên tính bất thường của khí hậu. Bên cạnh đó là việc đốt rừng làm rẫy hàng loạt trong những năm qua.

Nói một cách khác, sự tàn phá ngày càng trầm trọng hơn do khói mù gây ra không phải chỉ là do hạn hán với nguyên nhân là hiện tượng El Nino, mà còn do việc phá rừng xuất phát từ nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

Trên đây chúng ta vừa thấy khói mù bao phủ bầu trờ khu vực Đông Nam Á, nhất là xung quanh eo biển Malaysia, mà thoạt nhìn ta thấy đó như một thảm họa của tự nhiên, nhưng thực tế thì nó lại gắn rất chặt với những hoạt động mà gốc rễ của chúng là sự tăng trưởng và nền kinh tế thị trường. Những thí dụ về ô nhiễm và phá hủy môi trường thì vô số: người ta không những có thể tìm được chúng ở Indonesia hay Malaysia, mà có thể thấy ở mọi miền của châu Á nơi đang lao vào con đường tăng trưởng mạnh.

Diễn đàn Nhật Bản về môi trường, một Tổ chức phi chính phủ, đã công bố vào cuối năm 1997 một bản báo cáo về tình hình hiện nay ở Đông Nam Á liên quan đến ô nhiễm và phá hủy môi trường dưới các hình thức như là “công nghiệp hóa khẩn trương”, “đô thị hóa bùng nổ”, “ô nhiễm và ảnh hưởng của ô nhiễm đối với sức khỏe” và “sự biến mất tính đa dạng sinh học” (Nihon Kankyo Kaigi, 1997). Việc công nghiệp hóa nhanh chóng nhằm đẩy mạnh tăng trưởng đã gây ra ở khắp nơi cảnh ô nhiễm đô thị, ô nhiễm nước do chất thải công nghiệp đổ xuống, những mối nguy hại của môi trường tự nhiên như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước và mưa acid, phá rừng, tạo ra một cảnh tượng thật là thê thảm. Chúng ta còn có thể kể đến việc hoang mạc hóa dần dần quanh ba khu Tar, Gobi và Iran – ba sa mạc lớn của châu Á, sụt lở đất ở những khu vực chính của đồng bằng, sự ô nhiễm nước cao độ ở biển Bột Hải, thuộc Bắc Trung Quốc, cũng như ở vịnh Djakarta. Thuốc trừ sâu trong nông nghiệp và chất thải công nghiệp đã làm ô nhiễm nước ngầm, và gây ra những vấn đề về sức khỏe cộng đồng. Thêm vào đó còn có những đám mù khói. Bắt đầu là ở Thái Lan, Campuchia, Papua Newguine và Lào đã bị phá hủy cùng với đủ loại hệ thống sinh thái ở đó. Sự kiệt quệ tài nguyên biển đã đánh vào ngư dân trên các hòn đảo cũng như vùng ven biểu châu Á (ESCAP, 1995). Chúng ta bị mất dần những nguồn tài nguyên thiên ở châu Á. Hiện tại thì cuộc sống trong một thành phố lớn tỏ ra thật khốn đốn do những hậu quả của hiện tượng “đô thị bùng nổ” theo cách nói của cuốn Sách Trắng: những công trình xây dựng lớn hầu như thường xuyên, bụi và chất thải giao thông, ô nhiễm nước, tiếng ồn, những tai nạn giao thông và sự bành trướng của những khu phố nghèo. Tháng 3 năm 1998, khi tôi ở Bangkok, một chiếc dầm cầu nặng hai trăm tấn đã rơi xuống lúc nửa đêm tại một công trường xây dựng tuyến đường sắt trên cao, đè bẹp những chiếc xe tải và taxi đi ngang qua đó. Nếu tai nạn này xảy ra vào ban ngày thì nạn nhân chắc sẽ còn nhiều hơn vụ Sarin ở Tokyo. Một điều không thể chối cãi được là môi trường ở châu Á đang ở trong tình trạng hết sức nguy kịch và thực tế là nó đang ngấm ngầm hủy hoại cơ sở của sự tăng trưởng và ngăn chặn sự phát triển bền vững.

Sau đây chúng ta sẽ xem xét mối quan hệ giữa cuộc khủng hoảng tiền tệ và tài chính với tình trạng nguy kịch của môi trường.

2/ Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ dưới tác động của kinh tế

Trong khi khói mù trải rộng ở châu Á thì đồng tiền của Thái Lan, đồng Baht, đã suy sụp trước đồng USD vào tháng 7/1997. Sự sụt giá của đồng Baht sau đó chuyển sang đồng Ringgit của Malaysia, và đồng Rupie của Indonesia. Những đồng tiền này còn bị mất giá vào tháng giêng 1998: đồng bạt và đồng Ringgit đã sụt từ 20% đến 30%; đồng Rupie sụt xuống chỉ còn 1/4 giá trị gốc. Vùng Đông Nam Á ngay lập tức chịu ảnh hưởng của những đồng tiền không ổn định ở Đông Nam Á; đồng Won của Hàn Quốc sụt giá hơn 40%. Đồng Dollar Hongkong tuy thế vẫn cầm cự được trước phản ứng dây chuyền để duy trì được giá trị đồng tiền của mình (Nishikawa 1998), (Okurasho 1998).

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự sụt giá tiền tệ ở Đông Nam Á và Đông Á. Thứ nhất, nó cho thấy một giới hạn của sự tăng trưởng kinh tế do chỗ là người ta đã chú trọng quá nhiều đến xuất khẩu. Những nước nói trên đã xuất khẩu rất nhiều trên thị trường thế giới và người ta có thể nói rằng chính xuất khẩu đã đưa đến thời kỳ tăng trưởng mạnh về kinh tế. Mức sống lên cao thì họ cũng bắt đầu bị các nước công nghiệp hóa ở mức độ thấp hơn đe dọa, những nước này chế biến sản phẩm rẻ hơn và họ cũng bắt đầu xuất khẩu trên thị trường quốc tế. Tỷ lệ xuất khẩu của Thái Lan năm 1996 không hề tăng. Bởi vì, một mặt là Trung Quốc, Ấn Độ và Mexico, tuy tham gia vào cuộc cạnh tranh quốc tế chậm hơn, nhưng đã chiếm được thị phần của các nước khác. Đặc biệt là Trung Quốc đã trở thành nước xuất khẩu có tính cạnh tranh nhất với việc phá giá 30% đồng NDT của mình khi Trung Quốc thống nhất các loại giấy bạc có khả năng trao đổi vào năm 1994. Tương tự như vậy, Mexico đã thành công trong việc tăng đáng kể lượng xuất khẩu sang Mỹ bằng cách giảm giá đồng Peso trong quá trình cải cách cơ cấu diễn ra vào thời kỳ 1994 – 1995.

Mặt khác, một số nước châu Á như Thái Lan vì đã đưa vốn nước ngoài vào, đồng thời cố định tỷ giá hối đoái với đồng USD nên đã phải chịu khổ vì sự tăng giá đồng tiền của nước ngoài do sự lên giá của USD vào năm 1995 và 1996. Đó là hai lý do giải thích khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu bị giảm sút và sự trì trệ về kinh tế của các nước này.

Thứ hai, là một sự hạn chế đối với tăng trưởng kinh tế do Nhà nước khởi xướng. Ở phần lớn các nước Đông Nam Á và Đông Á khi bắt đầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đuổi theo công nghiệp hóa và hiện đại hóa của các nước phát triển, Nhà nước vẫn đảm nhận việc quy hoạch hạ tầng cơ sở đối với các lĩnh vực ưu tiên, tổ chức tiếp nhận đầu tư nước ngoài nhằm tập trung các nguồn lực, giúp đỡ các nhóm công nghiệp và tài chính khổng lồ. Tuy nhiên, phát triển dưới sự chỉ đạo của Nhà nước đã dẫn đến tham nhũng của các chính khách và của tầng lớp viên chức, họ liên kết với giới doanh nghiệp và tài chính, và cuối cùng là làm tê liệt chính bản thân hệ thống kinh tế và tài chính, do chồng chất quá nhiều những khoản nợ không thể thu hồi được. Như chúng ta đã biết, hệ thống của Nhật đã thực thi một mối liên kết chặt chẽ giữa các giới chính trị, giới kinh doanh và giới quan liêu để thực hiện việc phát triển, hệ thống này đã kết thúc bằng việc chồng chất những khoản nợ rất đáng ngờ khoảng hơn 70 tỷ Yen (theo công bố của chính các ngân hàng), tương đương với 1/7 tổng thu nhập quốc dân, trong giai đoạn gia tăng tình trạng bong bóng kinh tế kếo dài từ năm 1986 đến 1991. Các ngân hàng Nhật Bản, vì không thể thanh toán được những khoản nợ này, nên đã làm mất đi niềm tin mà họ vốn có, đến nỗi nền kinh của Nhật Bản lâm vào ngõ cụt. Thái Lan và Hàn Quốc cũng tương tự với một lượng khổng lồ những khoản vay giữa các đối tác hay giữa các công ty mẹ với các công ty con của chúng thông qua các cơ sở ngân hàng hoặc phi ngân hàng, hiện tại, chúng trở thành những khoản nợ rất khả nghi, và là cội nguồn của việc “tê liệt hóa” hệ thống tài chính của những nước này. Đặc biệt ở Hàn Quốc, những khoản vay này đã đẩy đến chỗ trang bị quá mức, sản xuất dư thừa và những kiểm kê quá mức, một trong những nguyên nhân chính của sự đình đốn. Các nhà đầu tư nước ngoài không tin tưởng vào tình trạng kinh tế của các nước châu Á vì những điều mờ ám trong quản lý của một nhóm trong tầng lớp lãnh đạo liên kết với những gia đình lớn, dẫn họ đi đến chỗ vội vàng bán những đồng tiền của châu Á ngay khi tình trạng trì trệ xảy ra.

(còn tiếp) 

Người dịch: Quang Lung

Nguồn: Jun Nishikawa – L’economie d’Asie – Pacifique: perspective au début du XXIe siècle – quelle mondialisation peut-elle apporter au “développement durabel” – “Economies et Sociétés”, Hors Série, No.36, 11 – 12/1999, p. 9 – 27.

TN 2000 – 96 & 97

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s