Phần II: Thách thức chính trị

Đã chẳng có ai lên kế hoạch cho sự tiến hóa từ các hệ thống phong kiến và tôn giáo sang các hệ thống quyền sở hữu hiện đại, những hệ thống đang tồn tại ở phương Tây ngày nay. Tuy vậy, trên con đường tiến hóa lâu dài đến hiện đại, trong những khoảng thời gian dài liên tục của cuộc hành trình, khi các nhà cải cách bắt tay vào các chương trình có tính toán để làm cho quyền sở hữu có thể được tiếp cận nhiều hơn đối với một diện rộng các công dân, các chương trình thành công bởi vì chúng được trụ đỡ bởi các chiến lược chính trị được ái mộ. Đó là điều mà Thomas Jefferson đã làm ở Virginia cuối thế kỷ XVIII, khi ông là tăng tính có thể chuyển đổi của quyền sở hữu bằng cách bãi bỏ, cùng nhiều thứ khác, tập quán kế thừa theo thứ tự (không có khả năng chuyển nhượng tài sản ra ngoài gia đình). Khi Stein và Hardenberg làm cho các quyền sở hữu phổ quát thành hiện thực ở Đức vào đầu thế kỷ XIX, và khi Eugen Huber, ở Thụy Sĩ vào đầu thế kỷ XX, bắt đầu tích hợp tất cả các hệ thống quyền sở hữu rải rác khắp đất nước ông, họ cũng vậy, đã sử dụng các chiến lược được lên kế hoạch một cách chu đáo để tấn công sấm sét vào các chướng ngại vật của hiện trạng. Họ bảo đảm chắc chắn rằng, họ được trang bị bằng pháp chế nhắm đích một cách tinh ranh, nó đã cho phép chính phủ tạo ra những cuộc cách mạng không đổ máu, được nhân dân ủng hộ, không thể dừng lại được.

Vì sao ngày nay cần đến một chiến lược chính trị? Ai có thể chống đối việc xóa bỏ nạn phân biệt pháp luật, điều bất công một cách hiển nhiên đến như vậy? Thực ra, một số ít sẽ tranh luận về sự cần thiết của cải cách. Nhưng một nhúm thiểu số đầy quyền uy sẽ cảm thấy rằng, cải cách nhất thiết làm xáo trộn địa vị đặc quyền của họ, và họ sẽ chống lại một cách âm thầm và xảo quyệt. Cũng có một vấn đề liên quan: nhiều quy chế, những cái ngăn cản đại đa số nhân dân khỏi tư bản, cũng có thể chứa các điều khoản bảo vệ các lợi ích sống còn của các nhóm có quyền lực. Mở cửa chủ nghĩa tư bản cho những người nghèo sẽ không đơn giản như lái một chiếc xe ủi qua đống rác. Nó giống việc sắp xếp lại hàng ngàn cành và nhánh của một caái tổ đại bàng khổng lồ hơn – mà không chọc tức con đại bàng. Mặc dù việc sắp xếp lại này chỉ gây ra một ít bất tiện cho nhúm người thiểu số này, khi so sánh với những lợi ích toàn quốc gia của việc đưa vốn đến cho những người nghèo, những người bị ảnh hưởng sẽ không thấy điều này trừ khi cải cách được tiến hành bởi một sáng kiến chính trị mạnh mẽ với thông điệp và các con số hỗ trợ nó.

Rõ ràng, đây là một công việc cho những người hoạt động chính trị có kinh nghiệm với sự tinh tế để sắp đặt lại tổ chim đại bàng mà không để bị vồ. Họ là những người duy nhất có thể đồng bộ hóa sự thay đổi cho đại đa số và sự ổn định cho những thiểu số đầy cảnh giác. Một chiến lược vốn hóa cho những người nghèo phải tích hợp hai hệ thống quyền sở hữu, rõ ràng là mâu thuẫn nhau, vào một bộ luật. Nếu muốn thành công, thì một tổng thống hay một thủ tướng, người có vai trò nhiều hơn một nhà kỹ trị, phải chịu trách nhiệm và tiến hành chính thức hóa một cột trụ của chính sách chính phủ. Chỉ ở cấp chính trị cao nhất thì cải cách mới có thể có sự ủng hộ áp đảo và quét sạch quán tính ương ngạnh của hiện trạng. Chỉ có cấp cao nhất của chính phủ mới có thể ngăn chặn sự đấu tranh nội bộ của các quan chức và những mâu thuẫn chính trị khỏi làm tê liệt quá trình cải cách. Mỗi khi một quốc gia bắt đầu tiến hành một sự thay đổi lớn, bất kể để ổn định hóa đồng tiền, tư nhân hóa các cơ quan chính phủ, hoặc mở cửa trường học cho mọi chủng tộc, nguyên thủ quốc gia phải đứng ra để lãnh trách nhiệm tiên phong. Giải phóng những người nghèo chắc chắn nằm trong trách nhiệm của nhà lãnh đạo quốc gia.

Kinh nghiệm lịch sử và cá nhân đã dạy chúng ta rằng, để tiến hành một cuộc cách mạng về quyền sở hữu, một nhà lãnh đạo phải làm ít nhất ba việc cụ thể: nhìn bằng con mắt của những người nghèo, thâu nạp tầng lớp ưu tú, và đối xử với bộ máy hành chính pháp lý và kỹ thuật, những người chăm sóc hiện thời của lồng kính.

Nhìn bằng con mắt của những người nghèo

…Với những người nghèo ở bên mình, một nhà lãnh đạo có ý muốn cải cách đã chiến thắng ít nhất nửa cuộc chiến rồi. Bất cứ người đối lập nào đều sẽ bị đuổi sát trong cuộc thách đố với nguyên thủ quốc gia và đa số nhân dân. Nhưng để thắng, ông ta hay bà ta sẽ phải thu thập các sự thật đủ để biện hộ. Điều này liên quan đến việc tiến hành nghiên cứu sáng tạo: các nhà cải cách phải đặt mình vào tình cảnh của những người nghèo và đi dạo qua những con đường của họ. Các số liệu thống kê chính thức và không chứa những thông tin họ cần. Sự thực và các con số chỉ có thể được nhìn thấy từ ngoài lồng kính.

Khi tôi bắt đầu nghiên cứu khả năng để được những người nghèo tiếp cận đến quyền sở hữu chính thức ở Peru trong những năm 1980, mọi văn phòng luật sư lớn mà tôi đã tham khảo đều bảo đảm với tôi rằng, lập một doanh nghiệp chính thức để tiếp cận đến vốn sẽ chỉ tốn vài ngày. Tôi biết rằng điều này đúng với tôi và các luật sư của tôi, nhưng tôi đã linh cảm rằng nó không đúng với đại đa số người Peru. Vì thế các đồng nghiệp của tôi và tôi đã quyết định lập một nhà máy may có 2 máy khâu trong khu ổ chuột ở Lima. Để trải nghiệm quá trình theo quan điểm của người nghèo, chúng tôi đã dùng đồng hồ bấm giờ đo lượng thời gian mà một nghiệp chủ điển hình ở Lima phải dùng để qua được các cửa ải quan liên. Chúng tôi phát hiện ra rằng, để trở thành hợp pháp cần phải tốn đến hơn 300 ngày, làm việc 6 giờ một ngày. Chi phí: 32 lần lương tháng tối thiểu. Chúng tôi tiến hành một thí nghiệm tương tự để tìm xem một cá nhân sống trong khu nhà định cư ngoài pháp luật, mà sự hiện diện của người ấy đã được chính quyền xác nhận rồi, sẽ phải làm gì để nhận được chứng thư quyền sở hữu hợp pháp cho một căn nhà. Để nhận được sự phê chuẩn của riêng chính quyền tự trị đô thị của Lima – chỉ là một trong mười một cơ quan chính quyền có liên quan – cần đến 728 bước hành chính (xem Hình 6.3). Điều này xác nhận điều mà tôi đã hoài nghi từ ban đầu: hầu hết các số liệu quy ước phản ánh lợi ích của những người, như các luật sư mà tôi đã tham vấn, ở bên trong lồng kính. Đó là lý do vì sao lồng kính chỉ có thể thấy được từ bên ngoài nhìn vào – từ con mắt, từ viễn cảnh của những người nghèo.

Một khi chính phủ nhận được thông tin này, họ sẽ có khả năng giải thích chủ ý của mình theo cách mà những người nghèo có thể thấu hiểu và cảm thông. Kết quả là, họ sẽ ủng hộ chương trình cải cách một cách nhiệt tình. Những người nghèo sẽ trở thành bộ máy uqan hệ với công chúng, PR hữu hiệu nhất cho cải cách, cung cấp phản hồi những điều cần thiết từ đường phố để giữ cho chương trình tiến triển.

Đó là những gì đã xảy ra ở Peru. Từ năm 1984 đến năm 1994, các đồng nghiệp của tôi và tôi đã hướng mọi nỗ lực của mình vào thông báo cho công chúng về những lợi ích của việc nhấc lồng kính đi (khi ấy chúng tôi gọi nó là “hình thức hóa, chính thức hóa”). Mục tiêu của chúng tôi là chứng minh cho các nhà chính trị thấy rằng đã có một sự đồng thuận ngầm toàn quốc gia đối với cải cách và chính thức hóa các tài sản của những người nghèo là một chiến lược chính trị thắng lợi. Vào cuối những năm 1980, cuộc bầu cử đã xác nhận điều này: kiến nghị của chúng tôi về thay đổi hệ thống quyền sở hữu chính thức đã nhận được sự tán thành gần 90%. Với các con số như thế, không có gì ngạc nhiên rằng, khi những phần đầu của luật và quy chế mà tổ chức của tôi dự thảo cho việc chính thức hóa được đưa ra trước Quốc hội Peru vào năm 1988 và đầu 1990, chúng đã được nhất trí thông qua. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1990, mọi ứng cử viên, kể cả Mario Vargas Llosa, người viết tiểu thuyết và ứng cử viên của liên minh tự do – bảo thủ, lẫn Alberto Fujimori, một người theo chủ nghĩa dân túy kín miệng giấu tài và cuối cùng thắng cuộc, cùng với tổng thống hết nhiệm kỳ thuộc phe dân chủ Alan Garcia, đã tán thành chương trình chính thức hóa. Ngay cả ngày nay, bất chấp những nỗ lực triển khai thất thường và rất không đầy đủ, việc chính thức hóa là một mốc không thể tranh cãi và vĩnh cửu của bức tranh phong cảnh chính trị Peru.

Với sự thực, số liệu và công luận, tất cả đều ủng hộ cải cách, chính phủ sẽ có vị thế để di chuyển toàn bộ vấn đề nghèo đói một cách đầy kịch tính sang chương trình tăng trưởng kinh tế. Giảm nghèo đói sẽ không còn được xem như một mục tiêu nhân đạo được tiến hành nếu và khi nào có đủ khả năng. Ngược lại, tương lai của những người nghèo bây giờ có thể nằm trên đỉnh danh mục của chương trình tăng trưởng của chính phủ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s