Thay đổi quy tắc. Sự chia rẽ bên trong các liên minh bầu cử của đảng trong suốt những năm 1960 đã biến thành các cuộc đấu tranh trong nội bộ đảng – những trận chiến đã định hình lại các đảng phái với danh nghĩa là các tổ chức. Một kết quả quan trọng là cuộc cải cách theo kiểu cấp tiến đối với việc đề cử ứng cử viên tổng thống. Cách thức đề cử của những người Dân chủ đã không còn hiệu quả bởi rất nhiều đoàn đại biểu miền Nam tỏ thái độ phân biệt đối xử với những cử tri gốc Phi vừa mới được trao quyền bầu cử nhờ phong trào đòi quyền công dân. Tuy nhiên, chính cuộc chiến tranh ở Việt Nam mới châm ngòi cho một cuộc cải cách toàn diện. Khi những người Dân chủ phản đối sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam tìm cách đề cử một ứng cử viên có quan điểm chống chiến tranh vào năm 1968, họ đã nhận thấy một rào cản khó vượt qua – đó chính là hàng loạt quy trình, thủ tục bí mật và rất khác nhau ở các bang trong việc lựa chọn các đại biểu tham gia hội nghị đề cử toàn quốc. Chỉ có 15 bang tổ chức các cuộc bầu cử sơ bộ, và tại một vài bang trong số này, chiến thắng ở vòng bầu cử tổng thống sơ bộ chỉ là nơi để các ứng cử viên chứng tỏ cho các nhà lãnh đạo đảng thấy rằng họ có khả năng được lựa chọn như thế nào. Do các nhà lãnh đạo đảng lựa chọn đại biểu ở hầu hết các bang, nên những lãnh đạo từ các bang lớn hơn sẽ chi phối hội nghị. Một ví dụ là ở Pennsylvania, ứng cử viên chống chiến tranh, Thượng nghị sĩ Eugene McCarthy, giành được 72% phiếu bầu tại vòng bầu cử sơ bộ, nhưng Phó Tổng thống Hubert Humphrey giành được 80% phiếu bầu của các đại biểu hội nghị đến từ Pennsylvania.

Năm 1968, hội nghị đảng toàn quốc vẫn là nơi tập trung các tổ chức đảng của bang vốn khác biệt và chia rẽ giống như từ những năm 1830. Phần lớn những người lãnh đạo đảng, theo thói quen, vẫn trung thành với tổng thống của họ, Lyndon Johnson và người kế nhiệm được chỉ định là Phó Tổng thống Humphrey. Tại hội nghị diễn ra ở Chicago, các đại biểu của Dảng Dân chủ đề cử Humphrey làm ứng cử viên tổng thống trong khi những người biểu tình chống chiến tranh đứng chật kín các con đường bên ngoài tòa nhà hội nghị. Khi các cuộc biểu tình vượt khỏi tầm kiểm soát, chúng đã bị cảnh sát Chicago đàn áp bằng bạo lực theo lệnh của Thị trưởng Richard J. Daley, lãnh đạo của bộ máy đảng mạnh nhất còn sót lại và là một người ủng hộ chủ chốt của Humphrey. Sự chia rẽ trong nội bộ đảng, lên tới đỉnh điểm bằng các vụ bạo loạn và được phơi bày trước toàn thế giới trên truyền hình quốc gia, đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của ứng cử viên Dân chủ và dẫn tới chiến thắng của Richard Nixon trong cuộc bầu cử tổng thống.

Các cuộc bầu cử sơ bộ và các phiên họp kín. Để hàn gắn liên minh Dân chủ và khôi phục địa vị pháp lý của hội nghị đảng toàn quốc, một ủy ban của đảng (Ủy ban McGovern-Fraser) đã soạn thảo một loạt các tiêu chí cụ thể, yêu cầu rằng các đại biểu tham dự hội nghị đảng phải được lựa chọn trong một quy trình “công khai, đúng thời điểm, và mang tính đại diện”. Các tổ chức đảng tại bang phải tiến hành việc này theo một trong hai cách. Họ có thể tổ chức bầu cử sơ bộ, và kết quả của vòng bầu cử sơ bộ phải xác định ít nhất là 90% số đại biểu của bang. Hoặc có thể tổ chức các phiên họp kín của đảng bộ địa phương trong đó tất cả các đảng viên Dân chủ đều có thể tham dự, những người này sẽ lựa chọn các đại biểu đi dự các phiên họp kín của đảng ở cấp hạt, quận bầu cử, hoặc bang. Đến lượt họ, các đại biểu này sẽ lựa chọn những người tham dự hội nghị đảng toàn quốc. Lựa chọn dễ dàng nhất chính là tổ chức các vòng bầu cử sơ bộ, và hầu hết các đảng ở bang đã thực hiện phương án này. Năm 2004, các cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ được tổ chức tại 35 bang; những bang còn lại lựa chọn đại biểu thông qua các phiên họp kín.

Một sự điều chỉnh khác là phương thức phân bổ đại biểu theo kiểu “người chiến thắng giành tất cả” đã bị loại bỏ. Thay vì lựa chọn tất cả các đại biểu của bang trên cơ sở số phiếu cao nhất giành được, các quy tắc mới đã phân bổ số đại biểu theo tỷ lệ các ứng cử viên tùy thuộc vào lượng phiếu bầu mà họ nhận được trong các cuộc bầu cử sơ bộ hoặc phiên họp kín. Để đáp ứng tiêu chuẩn về “tính đại diện”, các đoàn đại biểu phải có thêm nhiều người thuộc nhóm thiểu số, phụ nữ và thanh niên. Do hầu hết các quan chức đượ cbầu đều là nam giới da trắng trên 30 tuổi, các quy tắc mới này có nghĩa là rất nhiều người trong số họ chẳng bao lâu sẽ không còn tham gia hội nghị được nữa.

Các quy tắc lựa chọn đại biểu của Đảng Dân chủ đã tạo ra một cuộc chơi hoàn tàon mới mẻ. Trước kia, vấn đề quan trọng và ảnh hưởng tới lợi ích lớn nhất của đảng, lựa chọn ứng cử viên tổng thống, được thực hiện bởi các nhà lãnh đạo đảng phái – những người tìm cách lựa chọn một người có khả năng chiến thắng chịu nghe theo họ và như vậy sẽ phân bổ những lợi ích từ chức vị tổng thống theo cách của họ. Hơn nữa, họ muốn một ứng cử viên có thể giúp tăng cường sức mạnh cho toàn bộ danh sách ứng cử của đảng trong ngày bầu cử. Giờ đây, việc đề cử được giành cho ứng cử viên nào có khả năng huy động sự ủng hộ tốt nhất trong các vòng bầu cử sơ bộ. Nếu các nhà lãnh đạo đảng dự định gây bất kỳ ảnh hưởng nào tới quá trình này, họ phải làm điều đó bằng cách phân phát những sự ủng hộ và nguồn lực bầu cử để phục vụ mục tiêu của mình trước và trong suốt mùa bầu cử sơ bộ.

Theo dự định, quy trình mới có thể “công bằng hơn”, nhưng nó đe dọa các mục tiêu khác của đảng, ví dụ như giành chiến thắng và nắm quyền chi phối. Ứng cử viên nào giành được sự ủng hộ nhiều nhất của nhóm thiểu số tích cực tham gia bỏ phiếu trong vòng bầu cử sơ bộ (tỷ lệ đi bỏ phiếu ở khu vực lân cận trung bình là 20% số cử tri đủ điều kiện) có thể không phải là người giành nhiều phiếu nhất trong số các đảng viên Dân chủ, chưa nói tới giới cử tri rộng rãi. Ví dụ, Thượng nghị sĩ George McGovern, ứng cử viên tổng thống năm 1972, là sự lựa chọn của những người Dân chủ chống chiến tranh song không giành được sự ủng hộ của bất kỳ ai khác; ông chỉ giành được 38% số phiếu đại cử tri, một thành tích thấp nhất của những người Dân chủ kể từ thời kỳ Liên minh Chính sách mới.

Hệ thống này cũng cho phép những người bên ngoài có các mối liên hệ mờ nhạt với các nhà lãnh đạo Đảng Dân chủ tham gia cạnh tranh. Jimmy Carter, thống đốc một nhiệm kỳ và hầu như vô danh của bang Georgia, đã giành được sự đề cử của Đảng và tiếp đó là chiếc ghế tổng thống vào năm 1976 nhưng ông hầu như không thể hợp tác một cách hiệu quả với đảng của mình tại Quốc hội. Sự thiếu kinh nghiệm của Carter đối với những cách thức hoạt động của Washington, cùng với việc thiếu những mối ràng buộc chính trị với những người có ảnh hưởng chi phối trong hệ thống, đã khiến cho chính quyền của ông tê liệt ngay từ đầu. Để đối phó với những vấn đề này, Đảng Dân chủ đã thay đổi các quy tắc của mình một vài lần nữa để dành cho những nhà lãnh đạo đảng nhiều ảnh hưởng hơn trong quy trình lựa chọn. Những quan chức dân cử nổi bật – các thống đốc, thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ – giờ đây được tự động lựa chọn trong số các đại biểu dự hội nghị toàn quốc. Nhóm được gọi là các đại biểu cấp cao này chiếm 17% số ghế tại Hội nghị toàn quốc của Đảng Dân chủ năm 2004. Tuy nhiên, sự hiện diện của họ không tạo ra sự khác biệt là mấy, bởi vì kể từ năm 1972, tất cả các vị trí đề cử của Đảng Dân chủ đều đã được hoàn tất trong các vòng bầu cử sơ bộ trước khi hội nghị diễn ra.

Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo đảng đã biết được cách thức để tác động tới quy trình lựa chọn trước khi các hội nghị diễn ra. Nếu họ có thể đạt được thỏa thuận chung về ứng cử viên cần ủng hộ, họ sẽ có thể có ảnh hưởng quyết định, như trường hợp đề cử George Bush năm 2000 đã cho thấy. Lúc đầu, Bush phải đối mặt với một đám đông gồm 12 ứng cử viên, như khi bắt đầu quy trình lựa chọn đại biểu (các phiên họp kín của Đảng Dân chủ tại Iowa vào ngày 24 tháng Giêng), có sáu người đã bị loại, và đến đầu tháng Hai thì chỉ còn Thượng nghị sĩ John McCain là một đối thủ đáng gờm. Bush đã gạt bỏ được sự cạnh tranh này bằng cách thuyết phục bộ máy lãnh đạo Đảng Cộng hòa, cũng như các quan chức đượ cbầu và các nhà tài trợ chiến dịch vận động tranh cử, rằng tư cách ứng cử viên của ông sẽ mang lại cơ hội tốt nhất để đưa Nhà Tắng quay lại vòng kiểm soát của Đảng Cộng hòa. Bush đã được chấp nhận bởi tất cả các phe phái trong đảng, từ những người Cộng hòa thuộc “câu lạc bộ đồng quê” sung túc tới những người bảo thủ về tôn giáo. Trên thực tế, Bush chính là giải pháp mang tính đồng thuận cho vấn đề của đảng về việc điều phối hoạt động đối lập của Đảng Cộng hào đối với ứng cử viên của Đảng Dân chủ là Al Gore.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s