2.9/ Nên có thái độ như thế nào?

Chúng tôi nghĩ rằng không nên dừng lại ở sự phản đối của các chủ thể thị trường cũng như của những đối tượng vay vốn. Khu vực tư nhân (các ngân hàng và công ty đầu tư) phản bác mọi ý kiến nêu ra “hệ thống bắt buộc” và sẽ không bao giờ thay đổi quan điểm phản đối của mình. Sự phản bác đó liên quan đến cả các điều khoản hành động tập thể bắt buộc. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả tối đa, những điều khoản như vậy phải có quy mô toàn cầu hay gần như vậy. Kế hoạch hành động của nhóm G7 còn chưa phát triển đến mức như vậy để làm thay đổi tình hình. Trong hoàn cảnh trên, biện pháp phục hồi tình hình tài chính là giải pháp duy nhất có tổ chức mà ta có thể chấp nhận được và hiện chính quyền có thể thực hiện.

Có thể chỉ cần sức ép của chính quyền cũng đủ làm thay đổi cán cân tình hình. Nếu không thì cũng có một phương tiện khác tương đối đơn giản để thực hiện những đề xuất của chúng tôi (Portes, 2000). Các cơ quan điều tiết của Hoa Kỳ (SEC) và Anh (FSA) là những ví dụ về các cơ quan được ủy quyền bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và duy trì trật tự trên thị trường. Mặc dù các cơ quan này không thừa nhận cách thức diễn giải nhiệm vụ của mình như vậy, nhưng chúng tôi cho rằng họ có đủ quyền lực và tư cách để ra tay can thiệp mà không cần sửa đổi luật lệ gì cả. Ví dụ ở Argentina cho thấy rõ rằng các thị trường ở nước này đã và vẫn đang lộn xộn, rằng nhà đầu tư không được bảo vệ một cách hiệu quả bằng một thủ tục hậu kiến thỏa đáng trước nguy cơ có thể xảy ra hiện tượng vỡ nợ.

Vì vậy, chúng tôi đề nghị các cơ quan điều tiết tài chính chủ yếu của Hoa Kỳ, của Anh hay của các nước khác cần yêu cầu mọi đợt phát hành hay chuyển nhượng trái phiếu trên thị trường được trình lên cho họ để xét duyệt cần kèm theo các điều khoản hành động tập thể và các điều khoản khác tạo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán lại nợ vay. IMF có thể đề xướng và đồng tài trợ cho một chương trình chuyển đổi tự nguyện các trái phiếu trong lưu thông không có các điều khoản kiểu này. Và IMF cũng cần phải giới hạn chỉ cho các nước áp dụng các điều khoản hành động tập thể được quyền sử dụng hình thức cho vay dự trữ bổ sung (hay thậm chí tất cả các hình thức cho vay của mình). Tính đến sự phản đối của thị trường, Kho bạc Hoa Kỳ và Kho bạc Anh chắc chắn cần phải gây sức ép lớn mới có thể tạo ra được sự vận động theo hướng này. Tuy nhiên, điều đó cũng đủ để cho phép triển khai các điều khoản hành động tập thể trên quy mô lớn. Bởi lẽ thị trường không thể nhân rộng các mô hình nêu trên, nên chính quyền dứt khoát phải ra tay.

2.10/ Quan điểm của Liên minh châu Âu

Một lần thì chưa thể tạo thành thông lệ, nhưng các nước thuộc khối Liên minh châu Âu đã thống nhất được quan điểm chung về một khía cạnh quan trọng trong nội dung tranh luận về kiến trúc tài chính. Đây là một điều tuyệt vời, cho dù quan điểm này còn rất bấp bênh nên khó có thể tạo ra một biến chuyển đáng kể. Chính Ban Quan hệ quốc tế của Hệ thống các ngân hàng trung ương châu Âu (tham gia hệ thống này có 15 nước thành viên của Liên minh châu Âu) là người khởi xướng quan điểm chung của châu Âu. Phái châu Âu nêu ra thực trạng là hiện không có hệ thống này có thể xứng với tên gọi như vậy. Họ lo ngại rằng nhóm G7 không có khả năng thực hiện chính những nguyên tắc của mình (tình hình này mà chúng tôi đã đề cập ở phần trước là hệ lụy của những bất cập tạm thời của các nguyên tắc trên và do không có bất cứ cơ chế đáng tin cậy để giải quyết một cách có trật tự). Ban này nhấn mạnh đến sự cần thiết phải xác lập các giới hạn giả định trong việc cấp vốn nhà nước. Họ mong muốn tăng cường sự lý giải tiền kiến và trách nhiệm hậu kiến trong trường hợp cấp vốn mang tính ngoại lệ. Họ cũng yêu cầu phải thực hiện các chính sách rõ ràng hơn liên quan đến biện pháp tạm ngừng chỉ trả và cho vay dãn nợ. Họ tỏ ra ủng hộ biện pháp dùng công cụ điều lệ hay ít ra là đe dọa dùng biện pháp này để gây sức ép lên các chủ thể thị trường và các đối tượng vay vốn. Một số nước châu Âu rút cuộc đã làm gương thông qua việc đưa ra các điều khoản hành động tập thể vào trong các công cụ nợ của mình. Tuy nhiên, Liên minh châu Âu đã không đưa ra được một sự đồng thuận thực sự cho việc triển khai cụ thể các nguyên tắc này. Mặt khác, chúng ta rất lấy làm tiếc là Hệ thống các ngân hàng Trung ương châu Âu đã không phổ biến công khai các đề xuất của mình. Điều đó có thể khiến chúng ta phải phân tích những lý do mà quan điểm chung của châu Âu dường như chỉ tác động rất hạn chế đến chính sách của IMF, ít ra là theo cách đánh giá của Washington.

2.11/ Một bộ luật ứng xử

Ngân hàng Trung ương Pháp (2003) đã rất có lý khi nhấn mạnh rằng trong bối cảnh còn những trở ngại cho việc thực hiện các cải cách mong muốn thì cần đi theo một giải pháp trung dung kết hợp cả biện pháp dựa vào hợp đồng và biện pháp dựa vào điều lệ. Nguyên tắc là phải có được sự nhất trí về phương thức cần tuân thủ trong trường hợp cơ cấu lại nợ vay để sao cho không bên nào phải nghĩ rằng hành động của bên kia là gây trở ngại hay có ý xấu.

Theo mô hình của Ngân hàng Trung ương Pháp, “bộ luật ứng xử sẽ xác lập một số nguyên tắc và hành vi chuẩn mực nhằm tạo điều kiện cho việc đề ra phương hướng giải quyết một cách có trật tự các khó khăn liên quan đến gánh nặng của món nợ chồng chất”. Điều đó đòi hỏi:

+ Sớm xác lập các mối quan hệ với các chủ nợ trước và trong khi xuất hiện các khó khăn liên quan đến việc thanh toán nợ;

+ Trao đổi thông tin một cách trung thực giữa tất cả các bên liên quan;

+ Cơ chế đại diện trung thực của các chủ nợ (thông qua các điều khoản hành động tập thể);

+ Thủ tục nhanh chóng và thực hiện trên tinh thần hợp tác;

+ Đối xử công bằng với các chủ nợ;

+ San sẻ đúng mức gánh nặng của khoản nợ;

+ Thương lượng với tinh thần thiện chí.

Mục đích là bảo toàn tình hình tài chính của con nợ: Để được như vậy, có thể tính đến nhiều công cụ như các biện pháp tái cấp vốn trên cơ sở thảo luận chung (rollover), cấp vốn bổ sung hay các biện pháp ngừng chi trả trên cơ sở thảo luận chung.

Tất cả các thủ tục đàm phán lại khoản nợ phải xoay quanh mục đích cuối cùng là làm cho khoản nợ không còn quá mức gánh chịu của con nợ. IMF cung cấp cho tất cả các bên liên quan những yếu tố thông tin cần thiết cho việc xác lập một giải pháp chấp nhận được.

Phương pháp này có ưu điểm là gỡ bỏ được một số điều cấm kỵ và đưa ra một lịch trình hữu ích cho việc tìm ra một giải pháp trong trường hợp khủng hoảng. VIệc có được một bộ luật ứng xử kiểu như vậy sẽ tạo điều kiện hình thành nên những mong muốn và suy nghĩ chung góp phần xác định ra những đòi hỏi chung đối với các bên có liên quan.

Tuy nhiên, nếu phải chọn ra một vấn đề nghiên cứu sâu thì đó chính là việc thực hiện bộ luật. Chúng ta hiện chưa có một mô hình để các chủ thể có liên quan có thể triển khai được một cách tự nhiên, khi mà mỗi người vẫn hành động dựa trên thái độ đối tác của mình. Mô hình cần phải có là mô hình mà trong đó mỗi bên đối tác, dù là chủ nợ hay con nợ, phải nghĩ rằng mình cần hành xử theo cách mà mọi người mong đợi ở mình.

(còn tiếp) 

Nguồn: Hội đồng phân tích kinh tế – Khủng hoảng nợ, phòng ngừa và giải pháp – NXB CTQG 2005

Daniel Cohen từ Đại học Sư phạm, CEPREMAP và CEPR (Pháp), Richard Portes từ London Business School, EHESS và CEPR.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s