Chúng ta dừng tại đây để điểm lại 8 giá trị (trên cả 4 góc của đồ thị).

1/ Các học giả Trung Quốc đã thiết kế bảng câu hỏi. Xem xét những giá trị liên quan này là một vấn đề của các nhà phê bình Trung Quốc. Một vài giá trị trong hệ giá trị của phương Tây (IBM) mà cụ thể là những giá trị liên quan tới sự tránh rủi ro cũng không có trong CVS. Điều đó không có nghĩa là chúng không có ý nghĩa đối với Trung Quốc, ví dụ, sự tránh rủi ro giải thích cho sự khác biệt sâu sắc giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

2/ Thang điểm trên mỗi chiều của 8 chiều giá trị được các sinh viên từ 23 quốc gia đưa ra và tính trung bình, xếp hạng các nước theo cách tương tự (tức là các giá trị này được hình thành cùng nhau trên một thành tố với từng quốc gia). Kết hợp 8 giá trị thành 1 giá trị chung là kết quả của phân tích thống kê thực tế cấp quốc gia, nó không phải là vấn đề của riêng các nhà phê bình phương Tây hay Trung Hoa.

Lý do chiều giá trị không được xuất hiện trong nghiên cứu của IBM là do những câu hỏi liên quan đã không được trả lời. Những nhà thiết kế bảng câu hỏi phương Tây của IBM đã không thấy chúng có sự tương quan. Nhưng bởi vì chiều giá trị này tương quan với sự phát triển kinh tế, Geert coi nó là một sự bổ sung thiết yếu cho công cụ toàn cầu hóa. Vì sự kiên nhẫn và tiết kiệm phản ánh một định hướng tới tương lai, trong khi sự ổn định cá nhân và truyền thống có thể được xem xét như một định hướng dạng tĩnh đối với tương lai và quá khứ. Bắt đầu với cuốn sách hoàn thành năm 1991 của mình, Geert đã gán chiều thứ năm cái tên “định hướng dài hạn đối đầu với định hướng ngắn hạn” (LTO).

Chiều giá trị thứ năm được định nghĩa như sau: Định hướng dài hạn biểu thị cho bồi dưỡng đạo đức hướng tới những phần thưởng trong tương lai, đặc biệt là sự kiên nhẫn và tiết kiệm. Ở cực đối diện, định hướng ngắn hạn lại biểu thị cho sự bồi dưỡng đạo đức liên quan tới quá khứ và hiện tại, đặc biệt đối với truyền thống, lòng tự trọng và thực hiện các nghĩa vụ xã hội.

 

Bảng 7.1

 

Bảng 7.1 cho biết các chỉ số trên chiều giá trị mới cho 23 quốc gia có mặt trong CVS. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á khác, những đất nước được ví như những “con rồng” hay “con hổ” trong những năm cuối của thế kỷ XX vì sự phát triển kinh tế nhanh chóng có điểm số cao nhất. Các nước châu Âu nằm ở khoảng giữa. Anh và các nước Anglo như Australia, New Zealand, Mỹ và Canada được định vị ở bên mặt ngắn hạn. Các quốc gia châu Phi như Zimbabwe và Nigeria có điểm số rất ngắn hạn giống như Philippines và Pakistan.

Có một vấn đề đối với chiều giá trị mới này là nó chỉ được đánh giá cho 23 quốc gia, ít hơn một nửa số quốc gia trong dữ liệu của IBM. Các ấn bản năm 2005 của cuốn sách này liệt kê điểm số LTO cho thêm 16 quốc gia dựa trên việc đánh giá nhiều lần và khái quát kết quả bằng phương pháp ngoại suy, nhưng vẫn còn quá ít và chất lượng chưa thuyết phục. Bản Điều tra giá trị thế giới của Misho Minkow đã mang lại cơ hội mở rộng cơ sở dữ liệu gấp bốn lần cho chúng tôi. Điều này có nghĩa là xác định lại định hướng dài hạn ở một vài khía cạnh. Nhưng trước khi chúng tôi công bố những điểm số mới và sự ứng dụng của chúng, chúng ta sẽ xem xét lại một số kết luận chính từ điểm số dựa trên CVS của 23 quốc gia.

Sự khác biệt của LTO – CVS trong cuộc sống gia đình

Trong xã hội loài người, trẻ em phải học kiềm chế bản thân và trì hoãn sự hài lòng để được coi là người văn minh. Nhà xã hội học người Đức, Norbert Elias (1897 – 1990) mô tả sự tự kiểm soát bản thân và phát triển một cái nhìn dài hạn về cuộc sống là những bước cần thiết trong tiến trình tiến tới văn minh. Trong xã hội, trì hoãn sự hài lòng tăng lên với tầng lớp xã hội: trẻ em thuộc tầng lớp thấp hơn tìm kiếm phần thưởng trực tiếp nhiều hơn trong việc sử dụng thời gian và tiền bạc hơn là trẻ em thuộc tầng lớp trung lưu. Giữa các xã hội trong CVS, sự trì hoãn hài lòng biến đổi khác so với LTO.

Hôn nhân tại các nước có điểm LTO cao là sự sắp xếp có mục đích và thực dụng. Các câu hỏi trong bản nghiên cứu WVS 1990 – 93 về “những điều nên làm trong cuộc sống hôn nhân hạnh phúc” chỉ ra rằng trong các gia đình thuộc các quốc gia có điểm LTO cao, vợ chồng sống trên danh nghĩa theo đúng pháp luật là điều bình thường và sự khác biệt trong quan điểm sống và sở thích giữa vợ với chồng không là vấn đề quan trọng. Trong một nghiên cứu khác, sinh viên từ những quốc gia có điểm LTO cao đều đồng ý với phát biểu: “Nếu tình yêu biến mất hoàn toàn khỏi cuộc sống hôn nhân, điều đó tốt cho cả hai khi phải chia tay với sự phân chia tài sản minh bạch và bắt đầu cuộc sống mới”. Đồng thời, số vụ ly dị tại các quốc gia này lại thấp hơn.

Chúng tôi đã từng trích dẫn một cuộc khảo sát do công ty nghiên cứu thị trường Wacoal của Nhật Bản tiến hành. Họ phỏng vấn những phụ nữ trẻ đang làm việc tại 8 thành phố châu Á về tiêu chí họ cần ở người chồng so với bạn trai lâu năm. Tiêu chí khác biệt nhất giữa các nhóm nước có điểm LTO cao và thấp lại là “tình cảm”. Ở nhóm nước có điểm LTO cao, tình cảm gắn liền với người chồng, ở nhóm nước có điểm LTO thấp, tình cảm lại gắn bó với bạn trai. Trong phần nghiên cứu của Wacoal về giới, nét khác biệt nhất giữa các nhóm nước có điểm LTO cao và thấp là sự khiêm nhường. Tại các nước có LTO cao, tính khiêm nhường là đức tính cảu con người nói chung, nhưng tại các nước LTO thấp, tính khiêm nhường lại bị xem là nữ tính. Một sinh viên Trung Quốc của Geert đã viết: “Không có tính khiêm nhường, con người sẽ trở nên tồi tệ hơn cả con vật”. Anh ta thấy rằng sự khiêm nhường này là kết quả của “cảm giác xấu hổ”. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này vào nửa sau của bài.

Một nghiên cứu khác về quan niệm tuổi tác của sinh viên từ 16 quốc gia đã được tiến hành. Độ tuổi mà một người bị coi là “già” (trung bình trên 60 tuổi đối với nam giới và 62 tuổi đối với nữ giới) có sự tương quan tích cực với sự giàu có của quốc gia và tương quan tiêu cực với LTO (qua 10 quốc gia đa sắc tộc). Tại những nước nghèo hơn, nhưng cũng tại các quốc gia có chỉ số LTO cao, tuổi già bị coi là đã bắt đầu sớm hơn mốc 60 tuổi. Nhưng cũng cùng một cuộc điều tra cho thấy sinh viên của những nước có LTO cao hi vọng họ sẽ được hài lòng với cuộc sống hơn khi về già.

Trong phần “Những yếu tố làm nên hạnh phúc gia đình” của bản nghiên cứu WVS năm 1990 – 93 đã được đề cập ở trên, một câu hỏi liên quan tới LTO là liệu trẻ em ở độ tuổi turớc khi đến trường có bị thiệt thòi khi mẹ của chúng không ở nhà. Phản hồi từ những người tại các nước có LTO là trẻ em sẽ bị thiệt thòi.

Một nghiên cứu của Asutralia tiến hành yêu cầu các bà mẹ từ hai nhóm dân tộc thiểu số phân loại cái gì trong tâm trí họ khi họ phải lựa chọn quà cho con trẻ. Nhóm bà mẹ da trắng đề cập tới việc làm cho trẻ thấy hạnh phúc và thu nhận được tình yêu từ các con. Các bà mẹ thuộc thế hệ nhập cư đầu tiên người Trung – Việt lại đề cập tới việc mang tới cho con cái sự giáo dục và tài chính tốt nhất; những bà mẹ này không màng tới bất kỳ lợi ích gì cho bản thân. Nhóm đầu tiên đã được xác định là hướng tới lợi ích trước mắt, nhóm thứ hai hướng tới lợi ích lâu dài.

Tóm lại, cuộc sống gia đình tại các nước có LTO cao là sự sắp xếp mang tính thực dụng, nhưng phải dựa trên tình cảm thực sự và sự quan tâm dành cho con cái. Trẻ em học về sự tiết kiệm, không yêu cầu thỏa mãn những đòi hỏi của chúng ngay lập tức, kiên trì theo đuổi mục tiêu và khiêm tốn. Sự tự khẳng định bản thân không được khuyến khích tại đây.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s