(2) Sự ủng hộ trực tiếp hoặc gián tiếp đã nâng cao thực lực quân sự và cảnh sát của Việt Nam ở Nam Hải. Mỹ, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ đều từng trực tiếp hoặc gián tiếp ủng hộ Việt Nam nâng cao thực lực quân sự và cảnh sát trên biển, hoặc cung cấp viện trợ, hoặc trực tiếp cung cấp tàu, bán các loại loại tàu tiên tiến… Sự hỗ trợ của Mỹ và Nhật Bản trong việc giúp Việt Nam nâng cao năng lực quân sự là tương đối nhiều. Trong kế hoạch phân phối nguồn vốn của Chính phủ Mỹ viện trợ cho các nước châu Á – Thái Bình Dương, mức viện trợ cho Việt Nam là rất lớn, đây là điều chưa từng có. Ngoài ra, Mỹ còn tăng cường mức độ và mật độ hợp tác hải quân với Việt Nam, về khách quan đều gián tiếp nâng cao năng lực hoạt động của Việt Nam ở Nam Hải, nâng cao thực lực của Việt Nam trong đối đầu với Trung Quốc ở Nam Hải, cũng đã nâng cao địa vị của Việt Nam trong chiến lược cân bằng Trung Quốc của Mỹ. Nhật Bản giúp đỡ Việt Nam về đào tạo nhân viên hải quân và viện trợ tàu đã qua sử dụng. Nga luôn là bên cung cấp trang thiết bị nhiều nhất cho quân đội Việt Nam, Nga đã bán cho Việt Nam tàu ngầm để nước này nâng cao thực chất thực lực hải quân. Ấn Độ giúp đỡ Việt Nam nâng cao thực lực về đào tạo nhân viên và giám sát trên không.

(3) Thu hút công ty nước ngoài tham gia khai thác vùng biển mà Việt Nam có tranh chấp ở Nam Hải. Các công ty dầu mỏ của Mỹ, Nga và Ấn Độ đều tham gia hoặc dự định tham gia hoạt động khai thác và thăm dò dầu khí ở vùng biển mà Việt Nam có tranh chấp ở Nam Hải. Bên cạnh việc giành được lợi ích thương mại, những công ty năng lượng nước ngoài này cònt rở thành công cụ chính sách hiệu quả để Việt Nam thực hiện quyền lợi biển của nước này. Công ty dầu mỏ của Liên Xô trước đây là công ty sớm nhất hợp tác với Việt Nam khai thác tài nguyên dầu khí ở vùng biển có tranh chấp trên Nam Hải, Nga đã tiếp tục xu thế hợp tác của hai nước trên lĩnh vực này. Năm 2013, trước khi Tổng thống Nga đến thăm Việt Nam, tập đoàn Rosneft đã thăm Việt Nam, lĩnh vực hiệp thương chính là khai thác dầu mỏ trên biển. Trước khi Chính phủ Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, các công ty dầu mỏ của Mỹ đã tham gia các hoạt động thăm dò của Việt Nam ở vùng biển có tranh chấp trên Nam Hải. Chính phủ của Mỹ và Việt Nam còn thúc đẩy hoạt động thương mại giữa các công ty dầu mỏ hai nước ở vùng biển tranh chấp. Năm 2008, tại Diễn đàn an ninh châu Á được tổ chức tại Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ công khai ủng hộ hoạt động thăm dò của các công ty Mỹ ở vùng biển tranh chấp gần Việt Nam. Ngoài ra, công ty dầu mỏ của Ấn Độ cũng hợp tác với Việt Nam tham gia hoạt động thăm dò ở vùng biển có tranh chấp trên Nam Hải. Đây đều là những kết quả mà Chính phủ Việt Nam và công ty của Việt Nam nỗ lực thực hiện.

(4) Những sự hợp tác trên kênh công khai khá có thể còn được thể hiện nhiều hơn và có hiệu quả hơn, ví dụ như điều tiết và trao đổi thông tin tình báo. Trong nhiệm kỳ Đại hội 11, sự trao đổi giữa Việt Nam và Philippines xoay quanh vấn đề Nam Hải tăng lên chưa từng có, trong đó có các chuyến thăm viếng của nhân viên quân sự và trao đổi thông tin tình báo giữa hai nước đồn trú trên các đảo, đá ở Nam Sa, còn bao gồm sự hợp tác giữa hải quân và cảnh sát biển hai nước.

Trước khi Đại hội 11 được tổ chức, tức trước năm 2011, vấn đề Nam Hải đã “tạm thời” lộ diện trong ngoại giao Việt Nam, nhưng vẫn chưa trở thành một trong những đề tài chủ yếu của ngoại giao Việt Nam. Năm 2010, Việt Nam đảm nhận vai trò chủ tịch luân phiên của ASEAN, tại Diễn đàn khu vực ASEAN được tổ chức ở Hà Nội tháng 7/2010, Việt Nam với tư cách là Chủ tịch ASEAN đã đưa ra vấn đề Nam Hải để “điều tiết” với Mỹ. Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã đưa ra tuyên bố công khai với từ ngữ nghiêm khắc, phê phán cách làm của Việt Nam trong vấn đề Nam Hải trong thời gian giữ chức Chủ tịch luân phiên của ASEAN. Ngoại trưởng Mỹ khi đó Hillary Clinton trực tiếp đáp trả một cách cứng rắn chưa từng có đối với lập trường Nam Hải của Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải, thể hiệp lập trường của Mỹ trong vấn đề này, từ đó Mỹ tích cực can dự vào vấn đề Nam Hải. Trong cuốn hồi ký được xuất bản trước khi tham gia tranh cử tổng thống Mỹ, bà Hillary nhìn lại một cách tương đối đầy đủ sự chuẩn bị của bà và đội ngũ ngoại giao do bà đứng đầu nhằm vào Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải năm 2010, nhưng tương đối ít liên quan đến “sự hợp tác” giữa Mỹ và Việt Nam tại Diễn đàn khu vực ASEAN năm 2010. Mỹ tích cực can dự vào vấn đề Nam Hải về khách quan cũng phù hợp với lập trường của Việt Nam trong vấn đề Nam Hải. Giống như những phân tích sau cho thấy: Lôi kéo Mỹ tiến vào Nam Hải và vấn đề Nam Hải là một trong những phương hướng quan trọng của việc ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải, cũng là một trong hững kết quả mà Việt Nam luôn tích cực và nỗ lực. Tuy nhiên, trước khi Đại hội 11 được tổ chức – trước năm 2011, địa vị của vấn đề Nam Hải trong ngoại giao Việt Nam kém xa sau năm 2011.

III/ Vì sao ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải?

Ngoại giao là sự tiếp diễn của nội chính, việc ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam hải là sự tiếp diễn của sự chỉ đạo trong nước Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải trong nhiệm kỳ Đại hội 11.

Làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải mà trong nước Việt Nam chỉ đạo là chỉ trong nhiệm kỳ Đại hội 11, các lĩnh vực quản lý đối nội của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xuất hiện quá nhiều nhân tố trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vấn đề Nam Hải. Như: (1) Lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam bày tỏ thái độ công khai ngày càng nhiều trong vấn đề Nam Hải. Trong nhiệm kỳ Đại hội 11, 4 người đứng đầu của Bộ Chính trị Việt Nam dường như đều công khai bày tỏ thái độ và lập trường cứng rắn trong vấn đề Nam Hải, có thái độ đối đầu rõ rệt đối với Trung Quốc. Trái ngược với nhiệm kỳ Đại hội 10 (2006 – 2011), các lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam cơ bản không đề cập đến vấn đề Nam Hải trong các trường hợp công khai, chỉ có Chủ tịch nước Việt Nam khi đó Nguyễn Minh Triết trước khi hết nhiệm kỳ có bày tỏ thái độ cứng rắn gián tiếp ở vùng gần biên giới Việt – Trung. (2) Tổ chức các hoạt động và chương trình lớn liên quan đến vấn đề Nam Hải ngày càng nhiều, hơn nữa ở những vị trí quan trọng xây dựng ngày càng nhiều tượng đài liên quan đến Nam Hải, như khu tưởng niệm “Hoàng Sa và Trường Sa”, lấy “Hoàng Sa” và “Trường Sa” để đặt tên đường phố… Trước Đại hội 11, sự đầu tư của Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt Nam trong vấn đề Nam Hải ít hơn nhiều so với Đại hội 11; “sự đầu tư” của Việt Nam trong vấn đề Nam Hải bao gồm: trực tiếp đầu tư và khai thác ở Nam Hải, gián tiếp thực hiện các hoạt động tuyên truyền cho  vấn đề Nam Hải… (3) Không can thiệp hoặc ngầm đồng ý cho các hoạt động của người dân Việt Nam nhằm vào vấn đề Nam Hải. Trong những hoạt động này thậm chí còn bao hàm cả thành phần phản đối Đảng Cộng sản Việt Nam.

Việc ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải chỉ là một phần làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải trong sự chỉ đạo torng nước của Việt Nam. Những nhân tố dưới đây, vừa là nhân tố bối cảnh của việc Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải, vừa là căn cứ chủ yếu để phán đoán triển vọng của vấn đề này. Nếu những nhân tố này vẫn tồn tại sau Đại hội 12, thì xu thế làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải của Ngoại giao Việt Nam vẫn tiếp tục.

1/ Ba “cảm giác về nguy cơ”

Việt Nam không phải là quốc gia có nguy cơ ở khắp nơi, nhưng tầng lớp lãnh đạo cấp cao Việt Nam lại cho rằng có nhiều “cảm giác về nguy cơ”. Sự đầu tư của Đảng Cộng sản Việt Nam vào vấn đề Nam Hải trong nhiệm kỳ Đại hội 11 có thể thể hiện một cách gián tiếp “cảm giác về nguy cơ” của tầng lớp lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguy cơ mà Việt Nam có thể tồn tại bao gồm: xây dựng an ninh lãnh thổ và quốc gia dân tộc, an ninh chính quyền và sự an nguy của quyền lực cá nhân của tầng lớp lãnh đạo trong Đảng, những điều này đều thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp khuynh hướng coi trọng vấn đề Nam Hải của ngoại giao Việt Nam.

“Cảm giác về nguy cơ” là nhận thức đối với nguy cơ hoặc nguy cơ tiềm tàng là hành vi chủ quan, tính ngẫu nhiên lớn; “cảm giác về nguy cơ” không hoàn toàn giống với nguy cơ, mà là có thể thổi phồng nguy cơ. Sự tồn tại hoặc xuất hiện của “cảm giác về nguy cơ” ngoài bản thân nguy cơ, còn được quyết định bởi bản thân người nảy sinh “cảm giác về nguy cơ”, giống như nhu cầu hiện thực của con người trên các phương diện khác. Nhưng điều phải nhấn mạnh ở đây là “cảm giác về nguy cơ” của giới tinh hoa chính trị Việt Nam chắc chắn có cơ sở khách quan của họ.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

TLTKĐB – 11/04/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s