Để minh họa rõ hơn điểm này, chúng ta hãy xem xét hai trường hợp giả định mà việc giải quyết được thuận lợi hơn nhờ sử dụng bộ luật ứng xử.

2.11.1/ Mục tiêu: giảm bớt căng thẳng khi mức vay nợ còn ở mức gánh chịu được

Bộ luật ứng xử phân tích trước hết trường hợp mà mức vay nợ còn ở mức gánh chịu được về trung hạn, nhưng tình hình thanh toán ngay nợ vay đang tạm thời căng thẳng. Khi đó thì việc giảm nợ sẽ không phải là việc làm hữu ích. “Các chủ nợ phải trợ cấp tài chính với điều kiện không quá bắt chẹt”. Trong điều kiện như vậy, việc có được một bộ luật ứng xử liệu có thể giúp ích được không? Có thể là có nhưng cũng không phải là chắc chắn. “Việc xử lý tích cực mang tính chuyên nghiệp khoản nợ tỏ ra có lợi”. Tuy nhiên, chỉ cần nước liên quan bị coi là có nguy cơ thì chênh lệch lãi suất sẽ tăng lên và hệ lụy của nó là nguy cơ khoản nợ phình to. Trong điều kiện như vậy, chính nước con nợ với sự trợ giúp của IMF phải thể hiện được cách hành xử thích hợp. Và đây chính là điểm quan trọng trong đề xuất của chúng tôi: các con nợ phải cam kết với IMF là thực hiện một chính sách phù hợp cùng với sự hỗ trợ tài chính của IMF (người cho vay cuối cùng).

2.11.2/ Đề xuất một giải pháp trong trường hợp con nợ không có khả năng thực hiện những điều kiện quy định trong hợp đồng vay nợ ban đầu

Bộ luật ứng xử tiếp đó phân tích trường hợp giả định thứ hai khi mà khoản nợ vượt quá khả năng gánh chịu và khi đó các chủ nợ phải hỗ trợ thông qua hoạt động cơ cấu lại nợ vay. Trong trường hợp này cần tìm cách tránh được chiến lược bất hợp tác của một vài nhà đầu tư tư nhân (những nhà đầu tư độc lập…). Việc tạm dừng khả năng khiếu kiện và các biện pháp ngừng chi trả trên cơ sở thảo luận chung như bộ luật ứng xử đề xuất là các biện pháp phù hợp. Và việc sử dụng các điều khoản hành động tập thể rõ ràng là điều không thể thiếu để có được thái độ hợp tác hơn của các nhà đầu tư. Trong trường hợp giả định này, “IMF cần chấp nhận cho vay dãn nợ với điều kiện là chủ nợ và con nợ phải ký một thỏa thuận cơ cấu lại các khoản nợ vay bảo đảm giữ cho khoản nợ ở mức có thể gánh chịu được”. Trong giả thiết thứ hai này, chủ nợ lại là bên phải thể hiện thiện chí nhiều hơn bên vay nợ.

Đặt hai ví dụ trên cạnh nhau, chúng ta nhận thấy rằng việc có được một bộ luật ứng xử có thể thực sự có lợi với điều kiện có một bên thứ ba có vị thế bảo đảm sự tôn trọng nguyên tắc công bằng trong mọi tình huống. IMF có thể đảm nhiệm được chức năng bên thứ ba đó. Vai trò của bên thứ ba đó trong trường hợp giả định thứ nhất là thúc đẩy nước vay nợ phải hành động và trong trường hợp thứ hai là gây sức ép với các chủ nợ để giải quyết được khủng hoảng cho dù có phải giảm nợ đi chăng nữa. Tuy nhiên, triển vọng tăng thêm hơn nữa trách nhiệm và quyền lực của IMF trong việc giải quyết các cuộc khủng hoảng liên quan đến việc vay nợ đã vấp phải những ý kiến phản đối gay gắt. Chính vì vậy mà như chúng tôi gợi ý ở phần trên, có lẽ là hay hơn và ít gây tranh cãi hơn nếu ta giao một vai trò hạn hẹp hơn về giám sát và điều phối cho một định chế chuyên trách độc lập mới, dạng như Diễn đàn giải quyết tranh chấp liên quan đến nợ chính phủ.

Theo chúng tôi, điều quan trọng là bộ luật ứng xử phải chỉ rõ nguồn gốc của những khó khăn mà quốc gia gặp phải ảnh hưởng như thế nào đến các quyết định được đưa ra. Trong turờng hợp sụt giảm khả năng xuất khẩu do yếu tố ngoại sinh, thì chính IMF phải giải thích được các yếu tố ngoại sinh đó ảnh hưởng đến mức nào khả năng gánh chịu khoản nợ. Nếu đường hướng chính trị sai lầm là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, thì IMF phải công khai cảnh báo nước mắc sai lầm. Yếu tố trên cần được tính đến từ trước, trong khuôn khổ chiến lược cho vay dãn nợ. Cuối cùng, trong trường hợp khủng hoảng lòng tin, IMF phải can thiệp với tư cách người cho vay đầu tiên.

2.12/ Kết luận

Từ tháng 11 năm 2001 đến nay đã có những tiến bộ đáng kể được ghi nhận. Đề xuất Krueger và phản ứng của Mỹ đối với đề xuất này đã cho phép tháo gỡ được những trở ngại ghê gớm, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Vấn đề mấu chốt chính là vấn đề triển khai. Giải pháp phi tập trung và mang tính tự nguyện chắc chắn sẽ thất bại như từng được chứng minh khá rõ trong ví dụ đã nêu và kinh nghiệm tích lũy trong những năm qua.

Chúng tôi đã phác thảo những giải pháp hiện thực. Cuộc tranh luận xung quanh SDRM đã tỏ ra hết sức có ích dù rằng vai trò của phương thức này giờ đây có lẽ chỉ giới hạn như yếu tố xúc tác phục vụ cho việc thực thi các đề xuất hiện thực như các điều khoản hành động tập thể. Đôi khi, nhận xét cho rằng SDRM rút  cuộc đã không thực hiện được cũng làm giảm sút khả năng gây áp lực của công cụ này. Giờ thì chúng ta phải thay đổi phương thức đó bằng những công cụ khác phù hợp hơn. Ngay cả khi gải định rằng thị trường sẽ tự tạo ra thông lệ sử dụng các điều khoản hành động tập thể thì những đổi mới khác về mặt định chế vẫn cần thiết cho các điều khoản hành động tập thể có thể vận hành được. Những đổi mới này cũng sẽ phải mạnh bạo hơn chứ không thể chỉ đơn thuần là sự cổ vũ hành động.

(còn tiếp) 

Nguồn: Hội đồng phân tích kinh tế – Khủng hoảng nợ, phòng ngừa và giải pháp – NXB CTQG 2005

Daniel Cohen từ Đại học Sư phạm, CEPREMAP và CEPR (Pháp), Richard Portes từ London Business School, EHESS và CEPR.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s