Các nhà lãnh đạo không phải là những người ủng hộ đảng phái duy nhất có thể điều phối quá trình lựa chọn ứng cử viên tổng thống. Năm 2004, chính những người Dân chủ tham dự các phiên họp kín tạo Iowa vào ngày 19 tháng Giêng mới là những người thành công trong việc đề cử các ứng cử viên cạnh tranh với Bush. Trước khi các phiên họp kín này diễn ra, những người Dân chủ trên toàn quốc đang bị chia rẽ xung quanh việc ai sẽ được lựa chọn làm người thách thứ đương kim tổng thống, với sáu ứng cử viên giành được sự ủng hộ cao trong các cuộc thăm dò dư luận; thống đốc bang Vermont Howard Dean dẫn đầu trong các cuộc thăm dò song chỉ giành được 1/4 số phiếu bầu của các cử tri đảng Dân chủ (xem Hình 12 – 4). Với việc chấp thuận John Kerry thay vì Dean và các ứng cử viên khác (với 37% số phiếu bầu), những người Dân chủ bang Iowa đã bày tỏ niềm tin của họ rằng Kerry là người có triển vọng nhất của đảng trong việc đánh bại Bush. Kerry ngay lập tức giành được tỷ lệ ủng hộ cao trong các cuộc thăm dò dư luận, và điều này đã được củng cố bằng chiến thắng của ông tại New Hampshire 8 ngày sau. Tới giữa tháng Hai, Kerry đã có được sự ủng hộ đồng lòng của những người Dân chủ và giành được sự đề cử.

Các hội nghị toàn quốc tiến triển. Tính quyết định của các cuộc bầu cử sơ bộ đã làm thay đổi mục đích và ý nghĩa của các hội nghị toàn quốc. Trước đây, các cuộc hội nghị toàn quốc là nơi để những nhà lãnh đạo đảng của địa phương và bang thương lượng lại về những liên minh phức tạp của họ và lựa chọn một người cầm cờ để các phe phái có thể tập hợp xung quanh họ. Giờ đây, các đoàn đại biểu là thuộc về các ứng cử viên, chứ không phải các lãnh đạo đảng. Các cuộc hội nghị không còn lựa chọn ứng cử viên của đảng: những nhà hoạt động tích cực tại các phiên họp kín và cử tri trong các cuộc bầu cử sơ bộ mới làm điều đó. Trọng tâm của hội nghị không còn tập trung nhiều vào việc cải tổ các liên minh và huy động lòng trung thành, mà vào việc giới thiệu một hình ảnh và thông điệp có sức lôi cuốn đối với những công dân đang ngồi theo dõi trước màn hình tivi. Ví dụ, năm 2000, Đảng Dân chủ đã tìm cách thể hiện một bộ mặt thân thiện hơn so với những gì họ thể hiện trong các năm 1992 và 1996. Thay vì những người bảo thủ theo đường lối cứng rắn – đại diện cho hình ảnh của đảng vào những năm 1990, những người phát biểu trong giờ vàng bao gồm một tập hợp những người Cộng hòa là người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Tây Ban Nha – Bồ Đào Nha, và phụ nữ thuộc tất cả các nhóm chủng tộc. Một đại diện của Đảng Cộng hòa là người đồng tính thậm chí còn được phép nói về vấn đề chính sách đối ngoại. Thông điệp về sự ôn hòa và đa thành phần, cùng với khẩu hiệu của ứng cử viên về một “chủ nghĩa bảo thủ vị tha” được đưa ra nhằm khiến cho đảng trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhóm mà nó không được ưa thích lắm trong những năm gần đây – phụ nữ, các nhóm thiểu số, và những cử tri thuộc phái ôn hòa. Năm 2004, hội nghị toàn quốc của Đảng Dân chủ bầu John Kerry làm ứng cử viên đã nhấn mạnh hành động anh hùng của ông khi còn là một sĩ quan hải quân trẻ tuổi tại Việt Nam. Hình ảnh được miêu tả nổi bật là những người thủy thủ cùng phục vụ với ông trên những chiếc “tàu nhanh” tuần tra tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ý tưởng ở đây là nhằm thuyết phục các cử tri rằng Kerry có những phẩm chất của một nhà lãnh đạo và có sự dũng cảm cần thiết để chiến đấu chống lại chủ nghĩa khủng bố quốc tế, đối trọng với lời buộc tội không thể tránh khỏi của Đảng Cộng hòa rằng một tổng thống Đảng Dân chủ sẽ không đủ nhiệt huyết để bảo vệ đất nước.

Những nỗ lực này nhắc nhở chúng ta rằng hội nghị toàn quốc vẫn có tầm quan trọng thiết yếu đối với các đảng phái, cho cử tri thấy được những loại người nào tạo nên đảng phái và những nhóm và phe phái nào mà họ chiếm lĩnh. Biểu hiện của sự thống nhất đảng phái vẫn là một vấn đề cần lưu ý, không chỉ để khích lệ những nhà hoạt động đảng phái tích cực, như mục tiêu ban đầu của nó, mà còn để thuyết phục công chúng rằng đảng đã và đang hành động thống nhất và đáng tin cậy trong việc cai trị đất nước.

Sự tự thể hiện của đảng tại hội nghị toàn quốc của nó không phải là không chứa đựng rủi ro, bởi cả hai đảng đều có nhiều cơ hội để khám phá bản thân. Những nhà hoạt động tích cực của đảng thường có những quan điểm cực đoan hơn về các vấn đề hiện nay so với các cử tri bình thường – những người có thể đặt câu hỏi liệu đảng có thực sự đại diện cho các giá trị và lợi ích của họ hay không. Vấn đề này được minh họa trong hộp “Cử tri với các nhà hoạt động đảng phái năm 2004: Sự khác biệt về quan điểm”, so sánh quan điểm của các cử tri tự cho mình là những người Dân chủ hoặc Cộng hòa với quan điểm của các đại biểu tham dự hội nghị đảng toàn quốc năm 2000. (Để kiểm chứng theo cách tương tác những quan điểm của bạn so với quan điểm của các nhà hoạt động đảng phái và các cử tri Mỹ bình thường, hãy vào trang http://logic.cqpress.com/polparty/skillset.asp). Đối với hầu hết các câu hỏi, ý kiến của các đại biểu hội nghị thường bị chia rẽ sâu sắc hơn so với ý kiến của các cử tri; trung bình, những câu trả lời tương ứng của các đoàn đại biểu thường khác nhau khoảng hơn 60%. Trong một số ít vấn đề, quan điểm của các đại biểu còn khác hẳn so với quan điểm của những người ủng hộ đảng (những người Dân chủ xung quanh vấn đề hình phạt tử hình, nạo phá thai, và sự thừa nhận về mặt pháp lý các đôi đồng tính luyến ái; những người Cộng hòa về các vấn đề bảo vệ môi trường, hạn chế thương mại, và sử dụng chính phủ để giải quyết các vấn đề). Rất dễ hiểu tại sao nhiều cử tri thường xem những người Cộng hòa là quá bảo thủ và nhữn người Dân chủ là quá tự do để có thể bày tỏ quan điểm của họ một cách đáng tin cậy. Tuy nhiên, những câu trả lời này cho thấy rằng các cử tri bình thường của Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ khác nhau trên nhiều vấn đề, đặc biệt là về cuộc chiến tranh ở Iraq, chính sách kinh tế, và vai trò của chính phủ trong việc ủng hộ những giá trị truyền thống. Sự khác biệt trung bình trong các câu trả lời của cử tri hai đảng là vào khoảng 30%.

Hậu quả của những liên minh bị đổ vỡ. Khi nảy sinh các vấn đề làm chia rẽ những liên minh đảng phái đang tồn tại, các đặc trưng đảng phái yếu dần và mác đảng phái có thể không mang lại những thông tin mà các cử tri mong muốn. Sự đổ vỡ của các liên minh Chính sách mới vào thập niên 1960 và 1970 cùng những khó khăn mà các chính trị gia của đảng phái đối mặt trong công cuộc xây dựng lại các liên minh ổn định xung quanh những vấn đề mới đã làm giảm tầm quan trọng của dấu hiệu đảng phái đối với cử tri. Họ trở nên không chắc chắn lắm về việc chiến dịch chính trị nào là của đảng họ. Những hậu quả của điều này có thể được thấy rất rõ trong các cuộc bầu cử và thăm dò dư luận.

Bỏ phiếu theo đảng phái giảm, bỏ phiếu cho ứng cử viên của nhiều đảng tăng. Như chúng ta đã thấy, bỏ phiếu theo đảng trong các cuộc bầu cử tổng thống đã giảm trong các thập niên từ 1950 tới 1970. Điều tương tự cũng được nhận thấy trong các cuộc bầu cử vào Thượng viện và Hạ viện cùng thời gian này: tỷ lệ cử tri trung thành với đảng giảm hơn 10%. Tình trạng bỏ phiếu cho ứng cử viên của nhiều đảng tăng mạnh trong cùng thời kỳ (xem Hình 12 – 5). Rõ ràng là sự xác định theo đảng phái đã mất đi một số ảnh hưởng đối với lá phiếu khi liên minh Chính sách mới tan rã.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s