3/ Con đường hướng tới một sự phát triển bền vững và vai trò của xã hội công dân

Nói chung người ta đều cho rằng Nhà nước chịu trách nhiệm sửa chữa những “thất bại của thị trường” để kiểm soát những tác động ngoài ý muốn của sự tăng trưởng không cân bằng đối với xã hội. Nhưng ở một nước chậm phát triển, khi Nhà nước lo việc thực hiện công nghiệp hóa để đuổi kịp các nước phát triển hơn, thì ưu tiên của Nhà nước là nhằm vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng công nghiệp, và như vậy việc bảo vệ môi trường bị đẩy xuống hàng thứ hai (người ta từng nói rằng “chúng tôi thích những ống khói của nhà máy hơn là môi trường”), trường hợp của Nhật Bản hay của Indonesia nói lên điều này. Ở những nước mới công nghiệp hóa, chính Nhà nước đã phá hủy môi trường bằng những dự án lớn để phát triển, giúp cho các xí nghiệp có thể tận dụng để kiếm lời. Việc này đặt sự phát triển bền vững thành vấn đề. Nếu Nhà nước và các xí nghiệp tư nhân đã đẩy môi trường đến tình trạng nguy hiểm thì vai trò của xã hội công dân là phải bảo vệ môi trường. Chúng ta sẽ xem xét để chọn một trong hai hướng cho việc thực hiện sự phát triển bền vững: phong trào công dân và tư tưởng phát triển bằng nội lực nhấn mạnh đến văn hóa riêng và tự chủ của mỗi khu vực.

Nhật Bản là nước đầu tiên đạt được sự tăng trưởng mạnh trong số các nước châu Á. Thật vậy, thời kỳ tăng trưởng cao của họ trùng hợp với thời kỳ ô nhiễm diễn ra ở khắp nước Nhật. Giữa những năm 1970, tư tưởng chống lại sự ô nhiễm cuối cùng đã đi vào quần chúng: những người dân đã thắng cả bốn vụ kiện lớn liên quan đến những bệnh do ô nhiễm gây ra: bệnh Minamata, lấy tên một thành phố thuộc tỉnh Kumamoto, là bệnh nhiễm độc thủy ngân, Yokkaichi, bệnh hen xuyễn do khói thải, và hai vụ về bệnh Itai-Itai, ở hai tỉnh Toyama và Niigata, do chất cadmium gây ra. Chiến thắng của họ đã đánh dấu lịch sử của Nhật Bản trong bảo vệ môi trường: Bộ Môi trường ra đời được xem là kết quả của cuộc đấu tranh đó và mười năm sau, bộ luật về nghiên cứu tác động đối với môi trường và bộ luật cơ sở về môi trường đã được thông qua. Chính hành động của người dân đã đóng vai trò của người chủ xướng. Trong những năm 1970, thời kỳ chiến tranh lạnh, những người tham gia phong trào chống ô nhiễm bị xem là cộng sản, và các xí nghiệp lớn cùng những quan chức có vai vế trong vùng đã ra sức cản trở phong trào này. Thậm chí năm 1997, một kẻ bất lương đã tấn công bằng dao một ông xã trưởng thuộc tỉnh Gifu vì ông này phản đối việc xây dựng một nhà máy thiêu hủy chất thải công nghiệp. Rõ ràng là việc phát triển do Nhà nước áp đặt đã được thực thi trong một bầu không khí không thể gọi là dân chủ được, vì đã không tôn trọng ý nguyện của cư dân cũng như của mọi công dân. Thế nhưng chúng ta còn thấy có những trường hợp tương tự về sự chuyên chế có lợi cho sự phát triển, quên không nghĩ đến người dân, ở nhiều nơi khác nhau của châu Á, như chính sách sơ tán dân ở Philippines, ở Indonesia và ở Trung Quốc. Với việc quy hoạch đất đai, xây dựng một đập ngăn nước hay một khu công nghiệp thì một số lượng lớn dân cư buộc phải chuyển đi nơi khác, bằng cưỡng bức, bằng tiền, bằng đe dọa hoặc bằng nhiều cách khác nữa.

Một thành phố, quỹ đạo của một xí nghiệp lớn, hoặc một khu vực cư trú của người nước ngoài hay của những người dân thành thị, là những trường hợp điển hình: người ta có thể thường xuyên gặp ở đây cảnh vi phạm quyền tự chủ cộng đồng thuộc quyền con người, không quan tâm gì đến đời sống cũng như sức khỏe của người dân. Người ta thường nói nạn đói và thiên tai đã từng lặp đi lặp lại ngày càng nhiều trong suốt thời gian của chế độ thuộc địa: ở miền Đông Malaysia, một tập đoàn thương nhân người Hoa đã nhận được quyền khai thác khu rừng nhiệt đới. Họ sống trong một thành phố và đã đến phá hủy những khu rừng ở Sabah và Sarawak, đến nỗi mà những người dân địa phương thuộc tộc người Dayak ở đó đã bị rơi vào tình trạng khốn cùng (Hong 1987).

Thí dụ này khiến chúng ta nghĩ đến Minamata, thành phố của Nhật Bản được phát triển nhờ Công ty Chisso, trụ sở của Công ty đặt ở Tokyo: nhà máy của Công ty từ lâu đã làm ô nhiễm nước biển bằng thủy ngân, sức khỏe của người dân đã bị hủy hoại, thậm chí đã thấy có nhiều người bị liệt và bị chết.

Từ đó ta thấy rằng người dân càng đoàn kết sử dụng quyền tự chủ thì họ càng có khả năng bảo vệ được môi trường của mình và càng ít có nguy cơ bị tai họa.

Đài Loan, một trong những nước mới công nghiệp hóa, được cả thế giới biết đến vì ô nhiễm môi trường, hậu quả của sự tăng trưởng nhanh chóng. Một phong trào cư dân đã ra đời nhằm duy trì truyền thống của địa phương, nhằm khôi phục lại lịch sử của họ thông qua những hoạt động chống ô nhiễm đẻ bảo vệ môi trường trong những năm 1980. Song song với phong trào đi tìm bản sắc của mình, cư dân ở đây cũng đã bắt đầu tham gia vào phong trào cải thiện môi trường sống trong thành phố của mình. Từ đây đã ra đời chính sách giúp đỡ quyền tự chủ của địa phương của Bộ hành chính năm 1994. Đó là phong trào dẫn đến việc hìh thành một tổ chức địa phương trên cơ sở của những người tình nguyện sống gần nhau, và cũng nhằm tạo ra một môi trường sống tốt hơn qua việc phát triển cộng đồng. Cần ghi nhận rằng phong trào bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng được gắn với vấn đề dân chủ hóa rộng lớn trong chính sách của Đài Loan trong những năm 1990, vấn đề dân chủ hóa lại được thúc đẩy nhờ sự phát triển của Đảng Dân chủ tiến bộ trong thời kỳ này: đẩy lùi sự thống trị của người Trung Quốc đại lục. Ông Lý Đăng Huy đã được bầu là chủ tịch Đảng Dân tộc và đã trở thành tổng thống người địa phương đầu tiên trong chính phủ Đài Loan. Sự giác ngộ của người dân về quyền dân chủ và quyền tự chủ là chỗ dựa cho sự thay đổi về chính trị này. Ý thức giác ngộ về bản thân mình cùng với chủ nghĩa yêu nước của địa phương là những cơ sở cho sự phát triển lâu bền.

Trong trận động đất lớn ở Hanshin, có ít người có tuổi bị chết ở hòn đảo Awji, vì ở đây cộng đồng nông thôn vẫn tồn tại một cách vững chắc, người dân vẫn duy trì được thói quen giúp đỡ lẫn nhau, trong khi đó thì tổn thất ở thành phố Kobe nặng nề hơn nhiều mặc dù thành phố này luôn khoe khoang về “quy hoạch đô thị” của mình, trong đó họ đặc biệt chú trọng đến tính hiệu quả của những dự án khác nhau về phát triển quy mô lớn, như “hòn đảo Portpia”, một hòn đảo nhân tạo mà thành phố đã xây dựng trên biển Seto, được nối với thành phố bằng một cây cầu lớn. Thậm chí bốn năm sau, không phải là chuyện xây dựng lại, mà là đất bỏ không vẫn còn trải dài ở quận Nagata, trung tâm Kobe, và hàng chục ngàn gia đình vẫn phải sống trong khu nhà ở tạm, điều này chứng tỏ chính quyền sa đà vào việc tìm kiếm lợi nhuận, không để ý gì đến ý kiến của công dân. Torng quận Nagata, có cả một khu phố mà người dân ở đây đã thành công trong việc ngăn chặn không để thiệt hại trầm trọng hơn. Trong khi ở những khu phố khác có 30% nhà cửa bị thiêu rụi thì ở khu phố Mano, một điều thật là kỳ diệu, chỉ có 40 ngôi nhà bị phá hủy trong số 2400 ngôi nhà, bởi vì dân ở đây đã đương đầu với lửa, huy động hết sức mìh để dập tắt lửa với những xô đầy nước được chuyền tay nhau liên tiếp. Mano nổi tiếng với phong trào chống ô nhiễm từ năm 1965, và từ đó, người dân đã tự động tham gia từ 30 năm nay vào công cuộc cải thiện môi trường sống trong khu phố của mình.

Hai thí dụ trên đây khiến ta nghĩ đến tầm quan trọng của sự đoàn kết trong một xã hội cùng những cố gắng tự phát trong việc cải thiện môi trường sống. Đồng thời chúng cũng là những tấm gương về sự phát huy nội lực, mở đầu là những người dân địa phương với việc sử dụng nguồn lực ở phương. Những việc làm như vậy rất có hiệu quả về mặt bảo vệ môi trường và đề phòng thảm họai. Trong cuộc Hội nghị Thượng đỉnh về phát triển xã hội ở Copenhagen năm 1995, người ta cũng đã nhận xét rằng những vấn đề xã hội hiện nay như đói nghèo, thất nghiệp, xung đột sắc tộc và phá hủy môi trường đều bắt nguồn từ hệ thống giúp cho việc phát triển, chủ yếu là do Nhà nước cùng các công ty xúc tiến, đồng thời Hội nghị cũng thấy rõ tầm quan trọng phải kiểm soát và gảii quyết những vấn đề này bằng xã hội công dân (các tổ chức  phi lợi nhuận, phi chính phủ và giới báo chí độc lập). Sự phát triển cân bằng của xã hội không nhằm giành ưu tiên cho sự tăng trưởng như người ta thường nghĩ trước đây, mà nhằm tạo ra một hệ thống cho phép phát triển xã hội và con người nhiều hơn. Mặt khác, một điều cũng không thể thiếu được là phải có sự tham gia của quần chúng nhân dân trong tiến trình phát triển bên cạnh Nhà nước và các doanh nghiệp. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng “sự phát triển bền vững” đòi hỏi phải có sự thay đổi về tư tưởng đối với vấn đề này (Nishikawa, 1997b).

Trước khi kết thúc, chúng tôi muốn nhắc tới một sự việc là những người châu Á đã bắt đầu xem xét lại ý tưởng “phát triển” dưới hình thức phục hưng nền văn hóa truyền thông trong các phong trào công dân.

Chúng ta đang chứng kiến việc phục hồi văn hóa của đạo Phật thông qua các phong trào bảo vệ thiên nhiên, nhất là các phong trào khởi đầu là những “nhà sư vì sự phát triển”, họ chăm lo đến những tổ chức của công dân nhằm đấu tranh bảo vệ môi trường và phát triển xã hội ở địa phương.

Trong số các nhà lãnh đạo của phong trào này có những bậc thầy như: Bhikkhu Buddhadhasa (1906 – 1993), ông đã mở một tu viện tu luyện: “vườn siêu thoát” ở Chaiya nam Thái Lan và Bhikkhu Payutto (1939), nhà sư tại chùa Sai Chaitam ở ngoại ô Bangkok.

(còn tiếp)

Người dịch: Quang Lung

Nguồn: Jun Nishikawa – L’economie d’Asie – Pacifique: perspective au début du XXIe siècle – quelle mondialisation peut-elle apporter au “développement durabel” – “Economies et Sociétés”, Hors Série, No.36, 11 – 12/1999, p. 9 – 27.

TN 2000 – 96 & 97

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s