Các cử tri trở nên thờ ơ hơn với các đảng. Nhà khoa học chính trị Martin Wattenberg đã phân tích những câu trả lời trong bốn thập kỷ (1952 – 1992) cho các câu hỏi khảo sát xem mọi người thích gì và không thích gì ở các đảng phái. Ông nhận thấy rằng theo thời gian, tổng số lời bình luận ròng về các đảng phái trở nên ngày càng trung hòa (một tỷ lệ cân bằng về những điều mọi người thích và không thích đối với các đảng) chủ yếu là do ngày càng có nhiều người được khảo sát không có điều gì tốt hoặc xấu để nói về một trong hai đảng (xem Hình 12 – 6). Năm 1952, số cử tri đưa ra các câu trả lời mà khi cộng gộp lại ủng hộ một trong hai đảng nhiều hơn rất nhiều so với số cử tri đưa ra những câu trả lời mang tính cân bằng giữa hai đảng; tới những năm 1970, các câu trả lời trung hòa cũng phổ biến như các câu trả lời thiên vị đảng phái.

Với việc các cử tri thay thế đầu mối của đảng bằng đầu mối cá nhân, lợi thế bầu cử mà các thành viên đương nhiệm của Quốc hội được hưởng đã tăng lên. Những nghị sĩ đương nhiệm được lợi nhiều hơn từ lợi thế về tên tuổi đã được biết đến và sự phục vụ mẫn cán cho giới cử tri khi chỉ có rất ít cử tri tự động phải đối họ bởi những mối liên hệ của họ với đảng phái.

Giới cử tri trở nên dễ thay đổi hơn. Số phiếu bầu tổng thống của những người Dân chủ đã giảm 12 triệu từ năm 1964 tới năm 1968; số phiếu của những người Cộng hòa đã giảm 15 triệu từ năm 1984 tới năm 1992. Trong các cuộc chạy đua vào Hạ viện, mức thay đổi lá phiếu giữa các đảng trở nên linh hoạt hơn tại các khu vực bầu cử, khiến cho kết quả bỏ phiếu trở nên khó đoán biết hơn từ cuộc bầu cử này tới cuộc bầu cử kế tiếp.

Các ứng cử viên độc lập và ứng cử viên đảng thứ ba giành được sự ủng hộ cao hơn. Trong thời gian từ khi bắt đầu Chính sách mới năm 1932 tới năm 1964, không một ứng cử viên độc lập hoặc thuộc đảng nhỏ nào giành được nhiều hơn 3% số phiếu bầu. Từ thời điểm đó, ba ứng cử viên trong bốn cuộc tranh cử tổng thống đã vượt qua mức này: George Wallace (14% vào năm 1968), John Anderson (7% vào năm 1980) và Ross Perot (19% năm 1992, 8% năm 1996).

Tình trạng kiểm soát chính quyền phân chia giữa các đảng trở nên phổ biến. Các cử tri Mỹ ngày nay thường xuyên phân chia quyền kiểm soát Nhà Trắng và Quốc hội giữa các đảng. Liệu họ có làm điều này vì một mục đích nào đó không? Chắc chắn rằng những cử tri ôn hòa có thể sẽ thích các chính quyền phân tách bởi nó cho phép mỗi đảng ngăn chặn những đề xuất mang tính cực đoan hơn bên kia và buộc cả hai đảng phải thỏa hiệp khi hoạch định chính sách. Những người chỉ đơn giản là không tin tưởng các chính trị gia có thể cũng sẽ thích việc các đảng kiểm soát lẫn nhau. Bất chấp lôgích này, hầu như không có bằng chứng cho thấy rằng nhiều người đã phân chia lá phiếu của họ một cách có chủ ý để đạt được những chính sách ôn hòa để làm cho “tham vọng kiềm chế tham vọng”. Chính quyền bị phân chia thường là một sản phẩm phụ của việc các cử tri áp dụng những tiêu chí khác nhau đối với những chức vụ khác nhau, đáp lại những lựa chọn cụ thể trong mỗi cuộc chạy đua, hoặc tiến hành lựa chọn giữa các ưu tiên mâu thuẫn nhau của họ (giảm thuế nhưng tài trợ nhiều hơn cho các chương trình phúc lợi của tầng lớp trung lưu, giảm điều tiết nhưng nhiều sự bảo vệ hơn khỏi các nguy cơ của môi trường và thị trường). Nhưng ngay cả nếu chỉ có rất ít người bỏ phiếu một cách có chủ định để có một chính quyền bị phân chia, thì phần lớn cử tri vẫn rất vui mừng khi họ có được một chính quyền như vậy. Trong một cuộc điều tra tiến hành ngay trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2004, 56% cử tri thích có một tổng thống thuộc đảng này và Quốc hội do đảng kia kiểm soát, trong khi chỉ có 23% người trả lời thích có một đảng kiểm soát cả hai nơi (phần còn lại nói rằng điều đó không thành vấn đề). Trong một nửa số bang, các cử tri trong những cuộc bầu cử gần đây cũng bỏ phiếu để một đảng nắm giữ chức vụ thống đốc, còn đảng kia kiểm soát ít nhất là một viện của cơ quan lập pháp bang.

Phương tiện truyền thông và tiền bạc. Sự suy yếu ảnh hưởng của đảng đối với các cử tri bị đẩy nhanh bởi những thay đổi trong công nghệ và tính sẵn có ngày càng tăng của các nguồn lực dùng cho chiến dịch tranh cử – tiền bạc, kỹ năng, những nhà hoạt động tích cực – từ các nguồn bên ngoài đảng chính trị. Sáng kiến về công nghệ quan trọng nhất là việc sử dụng truyền hình như một phương tiện vận động bầu cử, song các công nghệ mới hơn, ví dụ như thư điện tử trực tiếp và các băng hình vận động tranh cử được sản xuất hàng loạt, cũng đóng góp đáng kể vào chiến dịch vận động bầu cử. Phương tiện truyền thông điện tử đã khiến cho các đảng phái trở nên bớt quan trọng đối với các ứng cử viên cũng như cử tri. Ross Perot đã có thể tiến hành một chiến dịch vận động tranh cử thành công một cách đáng kinh ngạc vào năm 1992 mà không có đảng phái nào đứng sau. (Ông chưa tổ chức Đảng Cải cách trước năm 1995). Các cử tri được thông tin bởi phương tiện truyền thông cũng như bởi tài liệu vận động bầu cử điện tử của ứng cử viên đã có những nguồn dễ tiếp cận hơn thay vì mác đảng phái để định hướng quyết định của mình. Việc đưa tin trên mạng điện tử – chưa nói đến chiến dịch quảng cáo – tập trung vào cá nhân các ứng cử viên và hầu hết là bỏ qua các đảng phái, từ đó đã khiến cho các cử tri có cớ để làm như vậy.

Các chiến dịch vận động được tiến hành trên truyền hình và thông qua thư từ trực tiếp là rất tốn kém, dẫn đến đòi hỏi phải có quỹ dành cho tranh cử. Sự phổ biến của các chiến dịch vận động với cử tri làm trung tâm cũng làm tăng chi phí bởi những chiến dịch vận động như vậy không thể hoạt động với tính hiệu quả về quy mô giống như các ứng cử viên làm việc như một nhóm trong đảng, cùng truyền đạt một thông điệp, và chia sẻ chi phí về người tư vấn, các chuyên gia, và quảng cáo. Nhưng những thay đổi này sẽ không thể có được nếu lượng cung tiền không tăng lên để đáp ứng nhu cầu. Điều này đã diễn ra bởi một nền kinh tế đang tăng trưởng tạo ra nguồn quỹ để mọi người đầu tư vào chính trị, và vai trò mở rộng của chính quyền trong đời sống và công việc kinh doanh của họ đã khiến họ có thêm nhiều lý do để làm như vậy.

Sự phục hổi của các đảng phái: Một hệ thống đảng phái thứ sáu?

Bất chấp những lực lượng đang cản trở các đảng phái, và bất chấp những nghi ngờ của công chúng về giá trị của đảng phái nói chung, các đảng Dân chủ và Cộng hòa vẫn tiếp tục chi phối nền chính trị bầu cử. Trên thực tế, những bằng chứng đưa ra trong Hình 12 – 5 và 12 – 6 cho thấy sự phục hồi của tính đảng phái trong số các cử tri trong vòng hai thập kỷ vừa qua. Việc bỏ phiếu cho ứng cử viên của nhiều đảng đã quay trở lại mức của những năm 1960, và các cử tri duy trì xu hướng ổn định là bớt trung lập hơn đối với hai đảng chủ chốt kể từ năm 1980. Các đảng phái đã sống sót bởi cùng những lý do đã khiến chúng ra đời: các quan chức được bầu, các ứng cử viên, và các cử tri vẫn nhận thấy không thể thiếu chúng.

Tính đảng phái vẫn được duy trì

Mặc dù có ít cử tri nghĩ rằng bản thân họ rất kiên định với đảng hơn so với tỷ lệ này 40 năm trước, song phần lớn mọi người vẫn sẵn sàng tự gọi mình là người Dân chủ hoặc Cộng hòa, và điều quan trọng hơn là mối liên hệ đảng phái vẫn là dự báo tốt nhất về cách thức mọi người bỏ phiếu. Sự phân loại các nhóm đảng phái từ năm 1952 tới 2004, như được chỉ ra trong Hình 12 – 7, là ổn định một cách đáng kinh ngạc bất chấp những sự kiện chính trị đầy kịch tính diễn ra trong thời gian này. Tỷ lệ những người tự cho mình là độc lập đã tăng lên, nhưng hầu hết những người độc lập trên thực tế đều ngầm có khuynh hướng nghiêng về một trong hai đảng chủ chốt và ủng hộ các ứng cử viên của nó một cách nhất quán, giống như những người có tính đảng phái yếu. Tỷ lệ những người độc lập “hoàn toàn” đã tăng từ 6% năm 1952 lên 15% vào năm 1976, nuh7ng tới năm 2004 thì giảm xuống còn 7,6%. Bởi những người tự miêu tả là độc lập này có khả năng đi bầu thấp, nên tỷ lệ của họ trong số phiếu bầu cử thực tế chỉ chiếm 5,4%. Tỷ lệ những người có khuynh hướng đảng phái mạnh (của cả hai đảng) giảm trong giai đoạn từ thập niên 1950 tới 1970, song đã phục hồi kể từ đó.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s