Winarno Zain

Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump dường như sẽ có chính sách đối ngoại với khu vực châu Á – Thái Bình Dương khác người tiền nhiệm là ông Barack Obama. Điều đó thể hiện qua việc ông cam kết sẽ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) xem lại chính sách quan hệ với các đồng minh chủ chốt của mình ở khu vực… Chính những điều này đang tạo cho Trung Quốc một cơ hội lớn để khẳng định mình như một cường quốc sẵn sàng thay thế cho vị trí của Mỹ ở khu vực.

Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump dường như sẽ không tiếp tục thực hiện chính sách “xoay trục” của Mỹ hướng về khu vực châu Á – Thái Bình Dương bằng việc cam kết sẽ rút khỏi TPP. Trong bối cảnh đó, các nước ở khu vực này đang phải vật lộn để tìm một thỏa thuận tự do thương mại thay thế.

Trong chiến dịch vận động tranh cử của mình, ông D. Trump đã nói rằng TPP là một “thỏa thuận thương mại khủng khiếp” và rằng ông sẽ rút khỏi TPP ngay trong ngày đầu tiên chính thức làm tổng thống Mỹ.

TPP là một hiệp định thương mại được Tổng thống Barack Obama tâm huyết muốn nó trở thành hiện thực nhằm đối trọng với Trung Quốc ở khu vực. Hiệp định này bao gồm 12 quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương mà không bao gồm Trung Quốc.

Cũng giống như các hiệp định thương mại tự do khác, TPP được cho là sẽ giúp tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập và đem lại cuộc sống thịnh vượng hơn cho người dân các quốc gia thành viên. TPP không chỉ xóa bỏ hàng rào thuế quan trong hợp tác thương mại giữa các quốc gia mà nó còn thiết lập các tiêu chuẩn về môi trường, quyền sở hữu trí tuệ và các điều kiện lao động…

Ngay sau khi tổng thống đắc cử của Mỹ tuyên bố không ủng hộ hiệp định này, các quốc gia thành viên còn lại của TPP đang xem Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEP) mà các thành viên bao gồm 10 quốc gia ASEAN cùng với Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand có thể là giải pháp thay thế.

RCEP hiện đang được 16 quốc gia đàm phán sẽ là sự thay thế hợp lý TPP và trở thành hiệp định thương mại quan trọng nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương về Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), kim ngạch thương mại cũng như quy mô dân số.

Lãnh đạo một số nước thành viên, trong đó có Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã thừa nhận rằng nếu TPP không thể ra đời, rất có thể RCEP sẽ lấp khoảng trống này.

Tuy nhiên, hiện nay, để quá trình đàm phán RCEP đi đến ký kết, vẫn còn phải mất một thời gian nữa. Hiện tại các quốc gia thành viên chưa thể thống nhất với nhau về nhiều vấn đề, trong đó có những khía cạnh quan trọng về tự do thuế quan của hiệp định thương mại này.

ASEAN, Nhật Bản và Australia muốn việc cắt giảm thuế đối với nhiều loại sản phẩm, trong khi Trung Quốc cho rằng việc cắt giảm này chỉ tập trung ở một số mặt hàng, dựa trên các thỏa thuận thương mại song phương hiện đang tồn tại trong hợp tác của các quốc gia thành viên.

Điều đó có nghĩa là Trung Quốc chưa sẵn sàng mở cửa nền kinh tế một cách rộng khắp đối với các sản phẩm của mình.

Một số quốc gia đã có những kinh nghiệm xương máu trong hợp tác thương mại với Trung Quốc. Brazil là nước có nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu tài nguyên sang Trung Quốc, khi kinh tế Trung Quốc bị chững lại, các loại hàng hóa của Brazil xuất khẩu vào nước này đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Tình trạng Indonesia được cho là có khá hơn một chút so với Brazil khi quốc gia này rút ra bài học từ năm 2014, thời điểm kinh tế Trung Quốc bắt đầu suy giảm.

Tuy nhiên, thực tế thâm hụt thương mại của Indonesia với Trung Quốc đã xấu đi kể từ năm 2010 với mức thâm hụt 5,6 tỷ USD, con số này đã tăng vọt lên 16 tỷ USD vào năm 2015.

Trong khi giá của các mặt hàng như than đá, niken cũng như các mặt hàng khác của Indonesia xuất khẩu vào Trung Quốc đều bị giảm thì các sản phẩm của Trung Quốc xuất khẩu vào Indonesia vẫn được duy trì mức giá cũ. Các loại hàng hóa của Trung Quốc như thép xây dựng, máy móc, thiết bị điện tử, điện thoại thông minh, đồ chơi… vẫn đang tràn ngập thị trường Indonesia, điều đó cũng đã gây ra những khó khăn rất lớn cho nhà sản xuất trong nước.

Trong khi đó, hiện nay, chính phủ Indonesia đang cố gắng để thúc đẩy quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư của nước này, đặc biệt là đối với lĩnh vực cơ sở hạ tầng.

Năm 2016 đã có sự nhảy vọt về đầu tư của Trung Quốc vào Indonesia. Tính đến tháng 9/2016, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Trung Quốc vào quốc gia này đã đạt 1,6 tỷ USD, gấp 3 lần so với tổng số vốn đầu tư của năm 2015. Thị phần tổng số vốn đầu tư nước ngoài của Trung Quốc vào Indonesia đã tăng từ 2,1% lên đến 7,4%.

Đầu tư của Trung Quốc tập trung vào lĩnh vực khoáng sản, năng lượng, cơ sở hạ tầng. FDI từ Trung Quốc được dự báo sẽ tiếp tục tăng khi chính phủ Indonesia tiếp tục thực hiện chính sách ưu đãi đối với Trung Quốc, trong đó bao gồm việc thiết lập một “Văn phòng tư vấn đầu tư” đối với các doanh nghiệp Trung Quốc, trụ sở được đặt tại Ban Điều phối Đầu tư (BKPM) của Indonesia tại thủ đô Jakarta.

Vấn đề thứ hai mà các quốc gia đàm phán RCEP cần quan tâm, đó là tình trạng dư thừa các loại hàng hóa tại Trung Quốc. Các nhà đàm phán đã cảnh báo về việc Trung Quốc sẽ sử dụng RCEP để tuồn các loại hàng hóa dư thừa trong nước sang các nước thành viên khi hiệp định này trở thành hiện thực.

Điều này không có gì đáng ngạc nhiên khi trong vòng vài năm qua, các sản phẩm thép giá rẻ của Trung Quốc đã tràn sang thị trường các quốc gia ASEAN và làm cho thị trường thép của các nước này bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Tại Indonesia, việc nhập khẩu thép giá rẻ từ Trung Quốc đang làm cho tập đoàn PT Krakatau Steel và các doanh nghiệp sản xuất thép khác của nước này đứng trước nguy cơ thua lỗ nặng.

Khi RCEP trở thành hiện thực, với mức thuế nhập khẩu bị giảm, trong khi đó Bắc Kinh không có sự điều chỉnh giảm tương ứng, ngành công nghiệp sản xuất thép của Indonesia sẽ đối mặt với nguy cơ phá sản.

Một điểm đáng lưu ý nữa cho thấy Trung Quốc đang muốn thiết lập vị trị thống trị của mình ở khu vực đó là vào tháng 10/2014, Trung Quốc đã cùng 20 quốc gia khác thành lập Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB). Ngân hàng này tập trung đầu tư vào các dự án hạ tầng ở khu vực châu Á. Khi AIIB được thành lập, nó đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của Mỹ và Nhật Bản bởi vì khi đi vào hoạt động nó sẽ cạnh tranh quyết liệt với Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB).

Trung Quốc có thể sử dụng AIIB để mở rộng ảnh hưởng của mình ở khu vực châu Á, khu vực trước kia luôn do Mỹ thao túng. Bên cạnh đó, việc cho ra đời ngân hàng này cũng sẽ giúp đồng NDT của Trung Quốc có giá trị hơn trong thanh toán toàn cầu.

Mặc dù Trung Quốc là nền kinh tế lớn nhất châu Á, Philippines hiện vẫn chủ yếu dựa vào nguồn vốn từ ADB. Thị phần đầu tư của Nhật Bản ở quốc gia này hiện vẫn gấp 2 lần Trung Quốc.

Đối với Indonesia, việc trở thành một trong những quốc gia sáng lập AIIB cũng giúp quốc gia này nhận được các khoản cho vay lớn từ ngân hàng này. AIIB được chính phủ Indonesia kỳ vọng sẽ là một nguồn bổ sung kinh phí đáng kể cho các dự án cơ sở hạ tầng quy mô của quốc gia này trong những năm tới.

Thông qua RCEP và AIIB, Trung Quốc đang dần khẳng định vai trò lãnh đạo không thể từ chối trong các vấn đề liên quan đến kinh tế, chính trị khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, hiện nay, Trung Quốc không phải không có những vấn đề khiến các nước trong khu vực phải dè chừng cũng như e ngại về sức mạnh của họ. Trung Quốc cần phải thể hiện là một nước lớn, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, bình đẳng trong hợp tác, làm ăn với các quốc gia láng giềng cũng như các quốc gia ở khu vực, từ đó mới có thể tiếp quản vai trò lãnh đạo trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Nguồn: The Jakarta Post – 08/12/2016

TKNB – 09/12/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s