Đối xử với những người canh giữ lồng kính

Khi các nhà cải cách đã có những người nghèo và ít nhất một số người tinh hoa đứng về phía mình, thì đó là lúc đề cập tới bộ máy hành chính công và tư, những người cai quản và duy trì hiện trạng – chủ yếu là, các luật sư và các nhà kỹ trị.

Các luật sư. Về lý thuyết, cộng đồng pháp lý phải có thiện ý với cải cách bởi vì nó sẽ mở rộng quy tắc của luật. Nhưng, thực tế, hầu hết các luật sư ở các nước đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây đã được đào tạo không phải để mở rộng quy tắc của luật mà để bảo vệ nó như họ thấy nó. Các luật sư là các nhà chuyên môn liên quan nhiều nhất đến công việc hàng ngày về quyền sở hữu. Họ ngồi ở các văn phòng chủ chốt của chính phủ, nơi mà họ có thể chặn các quyết định chính lại. Không có nhóm nào – trừ những kẻ khủng bố – lại ở vị thế tốt hơn [các luật sư] để phá hoại sự mở rộng tư bản chủ nghĩa. Và không giống với những kẻ khủng bố, các luật sư biết làm việc ấy thế nào cho hợp pháp.

Mặc dù các nghiệp chủ và dân thường là các nhà tạo dựng tư bản và chủ nghĩa tư bản, nhưng chính các luật sư là những người cố định các quan niệm quyền sở hữu vào hình dạng biểu thị hữu hình có thể sờ mó được và định nghĩa các khái niệm ấy trong các quy chế. Sự an toàn của quyền sở hữu, tính có trách nhiệm giải trình của các chủ sở hữu, và tính có thể thực thi của các giao dịch, cuối cùng phải được cụ thể hóa trong các thủ tục và quy tắc được các luật sư thảo ra. Thực tế, chính giới luật sư là giới hoàn thiện tất cả các đồ tạo tác của quyền sở hữu hình thức: các chứng thư, các hồ sơ, thương hiệu, quyền tác giả, lệnh phiếu, hối phiếu, bằng sáng chế, cổ phiếu của chứng khoán công ty. Bất luận bạn thích các luật sư hay không, không một sự thay đổi thật sự nào trong chế độ quyền sở hữu và quá trình tạo vốn xảy ra mà lại không có sự hợp tá của ít nhất một số trong số họ.

Cái khó là ít luật sư hiểu được những hệ quả kinh tế của công việc của họ, và phản xạ vô điều kiện [phản xạ đầu gối khi gõ vào xương bánh chè] của họ đối với ứng xử ngoài pháp luật và sự thay đổi quy mô lớn thường là thù địch. Tất cả các nhà cải cách mà tôi đã gặp, trong các hoạt động giúp những người nghèo có thể tiếp cận nhiều hơn đến quyền sở hữu, đều làm việc với thành kiến rằng, giới luật gia là kẻ thù tự nhiên của họ. Các nhà kinh tế liên quan đến cải cách trở nên thất vọng với chủ nghĩa bảo thủ pháp lý đến mức họ đã đầu tư thời gian và tiền bạc để làm mất uy tín của nghề luật. Sử dụng số liệu kinh tế của 52 nước từ năm 1960 đến năm 1980, Samar K. Datta và Jefferey B. Nugent đã chỉ ra rằng, với mỗi điểm phần trăm tăng lên của số luật sư trong lực lượng lao động (thí dụ, từ 0,5 lên 1,5%), tăng trưởng kinh tế giảm từ 4,76 xuống 3,68% – như vậy tăng trưởng kinh tế tỷ lệ nghịch với sự thận trọng của các luật sư.

Điều đặc biệt chọc tức nhiều nhà cải cách là cách thức mà các luật sư đổ lỗi của các hệ thống quyền sở hữu tồi sang cho người khác. Tôi thường nghe các luật sư tán dương luật quyền sở hữu hiện hành, trong khi ngay lập tức thừa nhận rằng các chứng thư sở hữu được cấp một cách hợp pháp là rất khó hoặc không thể sử dụng được. Điều này tất nhiên là không thể chấp nhận được. Một luật sư không thể thiết kế luật và các thủ tục hành chính để thi hành nó và sau đó lại đổ lỗi thất bại của nó cho sự yếu kém của các nhà kỹ trị cấp thấp hơn, những người thi hành luật, hoặc cho trình độ giáo dục thấp của những người dùng nó. Thảo ra các luật tinh vi là không đủ. Chúng cũng phải hoạt động trong thực tế hành chính và xã hội mà chúng phục vụ.

Thật khá lý thú, sự chỉ trích mạnh nhất đối với các nỗ lực của các luật sư nhằm trì hoãn cải cách quyền sở hữu thường là từ chính các luật sư đồng nghiệp. Đây là cách mà S. Rowton Simpson, một luật sư và tác giả lừng danh nhất thế giới về đề tài đăng ký đất, viết về các đồng nghiệp của mình:

Các luật sư, trên khắp thế giới, khét tiếng về sự miễn cưỡng của họ để chấp nhận ngay những sự thay đổi dù nhỏ nhất trong các thủ tục truyền thống của họ… Torrens [người Australia sáng chế ra một trong những hệ thống lập hồ sơ an toàn nhất của thế giới], người đã bị giới luật gia phản đối kiên quyết và bền bỉ, đã đánh bại sự chống đối của các luật sư ở miền Nam Australia; nhưng câu chuyện của ông ta là ngoại lệ hiếm hoi. Cần dùng kim cương để cắt kim cương, và trong hầu hết các nước, việc đăng ký quyền sở hữu, như một quy tắc, được áp dụng nhờ nỗ lực của một luật sư, người có thể bị tàn phế bởi sự chống đối mạnh mẽ của các thành viên hành nghề trong giới của anh ta; và phe chống đối thụ động có thể thậm chí còn tồi hơn phe chống đối tích cực, phe ít nhất hoặc là thắng hoặc là thu. Chống đối thụ động xảo quyệt hơn; nó có thể làm cho sự tiến bộ mất tác dụng. Chẳng ít đạo luật đã héo tàn sau khi nhận được sự hoan nghênh của những người hành nghề, mà hóa ra chỉ là ủng hộ suông hoặc thậm chí là “nụ hôn của thần chết”, là đòn chí tử; các đạo luật khác đã gắn vào chúng một thủ tục dài hạn đến mức làm cho sự tiến triển hầu như không thể cảm nhận được; những đạo luật như vậy chắc chắn không hề gây nguy hiểm cho tập quán đã được thiết lập, và như vậy có chiều hướng được giới luật gia chấp nhận, nhưng chúng không thật sự đạt mục đích; chúng đơn thuần chỉ làm tăng danh mục, nếu không phải các thất bại, thì ít nhất là của những trường hợp “không thành công”.

Mặc dù các luật sư thường thừa nhận các ngành khác phải năng động, nhưng họ lập luận rằng luật phải ổn định. Sự sùng kính như vậy với quy tắc luật, bất kể các hệ quả, có thể đạt tới mức mà các luật sư ủng hộ cải cách có thể bị rủi ro bị tẩy chay bởi các đồng nghiệp. Ở các nước nói tiếng Đức trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, sự thù ghét của giới luật gia đối với cải cách quyền sở hữu đã lên cao đến mức bất kể luật sư cải cách nào đều bị họ gọi là Mestbeschmutzer – con thú làm ô uế ổ của chính mình.

Tin vui cho các nhà cải cách là, các luật sư tài ba nhất (nhưng không nhất thiết thành công nhất) tin rằng luật được làm ra để phục vụ cuộc sống chứ không phải ngược lại. Các luật gia có tầm nhìn xa cuối cùng đã thắng xu hướng phản động của giới của họ ở phương Tây, thậm chí trong bối cảnh cảu luật La Mã. Phải công nhận rằng, cuộc chiến liên tục khó khăn, chủ yếu bởi vì, như Peter Stein đã nhận xét, “sự đóng góp [của các luật sư] cho sự hiểu biết đúng về các định chế pháp lý đã bị làm cho khó hiểu bởi sự nhấn mạnh của họ đến tính không hợp thời và sự chấp thuận của họ đối với luật La Mã như một sản phẩm hoàn tất. Tuy nhiên, với thời gian, các luật gia châu Âu vĩ đại đã khắc phục được sự cứng nhắc quá đáng như Stein chỉ ra, họ “đã làm cho giới của họ trở nên tinh thông về những phức tạp của luật La Mã, và đảm bảo rằng nó chuyển động với thời gian”. Chống lại sự lãnh đạm tràn lan của các đồng nghiệp ở mọi nước châu Âu, một toán các luật sư ưu tú đã nổi lên để giúp nhấc lồng kính đi.

Vì thế, bất cứ chính phủ nào thiết tha theo đuổi một hệ thống quyền sở hữu được tích hợp cũng phải đưa ra một chiến lược kỹ lưỡng đối xử với giới luật gia. Điểm cốt lõi là chọn đúng các luật sư. Cần có một nhà lãnh đạo chính trị sáng suốt và lanh lợi để tránh các luật sư thành thạo dùng các mưu mẹo tinh vi làm hoảng sợ các nhà chính trị, dẫn họ đến trạng thái bất động, mà thay vào đó phải tìm ra những người sẽ đem hình thức pháp luật vào các chương trình nghị sự cho biến đổi, ngay cả khi nó có nghĩa là chống lại hệ thống. Trừ phi nhà chính trị có đầu óc cải cách lựa chọn thật kỹ càng các luật sư của mình, ông ta sẽ bị phó mặc cho các nhà kỹ trị pháp lý cai trị, những người sẽ ủng hộ suông cải cách trong khi ngấm ngầm phá hoại nó trong bóng tối.

Các luật sư dũng cảm, có đầu óc cải cách tồn tại ở mọi quốc gia, và một khi các tiêu chuẩn tuyển chọn đối với các phẩm chất như vậy là rõ ràng, thì có thể nhận ra đúng họ. Nhiều người hiểu rằng các yếu tố căn bản quyết định thay đổi nằm ở ngoài luật. Ở mọi nước mà tôi đã viếng thăm, tôi đều thấy các nhóm luật sư của chính phủ rất thân thiết với khu vực ngàoi pháp luật, phấn đấu hàng ngày để tìm sự hài hòa giữa hệ thống chính thức và những thỏa thuận ngoài pháp luật hoạt động đồng thời. Nhưng công trình của họ có xu hướng không được để ý tới ở tầm cao của chính phủ, và như thế, cả họ nữa, cũng vẫn là vô hình. Thực vậy, gần như có một quy tắc rằng, những luật sư rành rõi về sự tồn tại của hai trật tự và có thiện cảm với cải cách lại bị đẩy ra bên lề của quá trình ra quyết định chính trị.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s