2/ Đại hội 11 đã nhận thức được một cách đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề Nam Hải đối với Việt Nam, đồng thời không ngừng tăng cường bằng các hành động thực tế

Trong bối cảnh lớn của 3 “cảm giác về nguy cơ” nêu trên, tầm quan trọng của Nam Hải đối với Việt Nam và tính nghiêm trọng  của vấn đề Nam Hải được thể hiện hơn nữa. Tầm quan trọng của biển (Nam Hải) đối với Việt Nam – bao gồm góc độ an ninh và kinh tế, đã được các nhiệm kỳ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam coi trọng, nhưng từ sách lược và hành động cụ thể đã thực hiện sự coi trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với biển – Nam Hải, được bắt đầu từ nửa sau của nhiệm kỳ Đại hội Đảng 10, đến nhiệm kỳ Đại hội 11 được thực hiện cụ thể. “Chiến lược biển Việt Nam” mà Hội nghị trung ương 7 khóa 10 thông qua dường như đã đặt cơ sở cho nhiệm kỳ Đại hội 11 thúc đẩy toàn diện quyền lợi và chiến lược biển Nam Hải.

Trong nhiệm kỳ Đại hội 11, một số hoạt động liên quan có vẻ như là phi chính thức, nhưng lại có thể thể hiện địa vị của vấn đề Nam Hải trong chương trình nghị sự chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đang tăng lên. Lấy sự phát triển của ý thức “quần đảo Hoàng Sa” của Việt Nam làm ví dụ để chứng minh mức độ coi trọng của Việt Nam đối với Nam Hải và vấn đề Nam Hải. “Quần đảo Hoàng Sa” (Trung Quốc gọi là quần đảo Tây Sa) là một trong những trọng tâm của vấn đề Nam Hải của Việt Nam, trên thực tế cũng là vấn đề chủ yếu của vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc; từ xu thế phát triển của quan hệ Trung – Việt trong những năm gần đây cho thấy, tranh chấp xảy ra giữa Việt Nam và Trung Quốc xoay quanh “quần đảo Hoàng Sa” thậm chí còn nhiều hơn so với tranh chấp xoay quanh “quần đảo Trường Sa”.

Trong nhiệm kỳ Đại hội 11, các hoạt động liên quan kỷ niệm Nam Hải của Việt Nam nhiều chưa từng có. Hoạt động kỷ niệm “hải chiến Hoàng Sa” tháng 1/1974 của Việt Nam và những người hy sinh trong cuộc chiến này đã được thực hiện công khai kể từ năm 2014, đồng thời có thể tiếp tục diễn ra. Những phát triển rầm rộ về ý thức “Hoàng Sa” mang tính phi chính thức này trên thực tế là phản ánh gián tiếp về sự coi trọng của Chính phủ Việt Nam đối với vấn đề Nam Hải.

IV/ Lợi ích và xu thế của việc ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải

Lợi ích mà xu thế làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải của ngoại giao Việt Nam đem đến là rất rõ ràng; bên cạnh đó, sau khi Đại hội 12 được tổ chức năm 2016 rất nhiền nhân tố khiến cho ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải không những không biến mất, mà còn có thể tăng lên hơn nữa. Vì vậy, có lý do để khẳng định: Sau Đại hội 12, xu thế làm phức tạp hóa vấn đề Nam của ngoại giao Việt Nam không những không yếu đi, mà còn có thể gia tăng hơn nữa.

1/ Lợi ích ngoại giao

Ngoại giao Việt Nam dưới sự dẫn dắt của vấn đề Nam Hải không những làm sống lại ngoại giao Việt Nam, mà còn nâng cao hơn nữa giá trị địa lý của Việt Nam – nhất là giá trị của Việt Nam trong chiến lược của Mỹ, Nga, Nhật Bản, các nước ASEAN đối với Trung Quốc.

Thành tựu ngoại giao Việt Nam trong nhiệm kỳ Đại hội 11 là chưa từng có, dường như trên tất cả các lĩnh vực của Việt Nam trừ ngoại giao với Trung Quốc đều giành được tiến triển chưa từng có, bao gồm quan hệ giữa Việt Nam và các nước lớn, cũng như “sự hợp tác” giữa Việt Nam và các đối tác ASEAN trong vấn đề Nam Hải. Quan hệ Việt – Mỹ giành được tiến triển mang tính đột phá trong nhiệm kỳ Đại hội 11, sự kiện mang tính đại diện là chuyến thăm Mỹ mang tính lịch sử của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam; sự giao lưu và trao đổi qua lại giữa Việt Nam và Mỹ trên các lĩnh vực trong đó có cả quân sự đều đạt đến cấp độ mới trong lịch sử quan hệ song phương, và ý đồ nhằm vào Trung Quốc trong sự trao đổi qua lại Việt – Mỹ trên lĩnh vực chính trị, quân sự và kinh tế ngày càng rõ rệt. Quan hệ Việt – Nhật cũng phát triển đến cấp độ mới trong nhiệm kỳ Đại hội 11, không những được thể hiện trong chuyến thăm Nhật Bản của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn thể hiện ở sự đầu tư và viện trợ của Nhật Bản cho Việt Nam ngày càng tích cực, còn được thể hiện ở sự phố hợp chặt chẽ và tích cực của Nhật Bản với Việt Nam trong vấn đề Nam Hải, đồng thời tích cực giúp đỡ Việt Nam nâng cao năng lực hàng hải. Nga là đồng minh truyền thống của Việt Nam, cũng là nước lớn “thân thiện” nhất đối với Việt Nam, Nga không những chưa từng “xâm lược” Việt Nam, mà còn từng viện trợ cho Việt Nam khi nước này khó khăn nhất. Mức độ hợp tác Việt – Nga trên các lĩnh vực cũng vượt qua mức độ trong nhiệm kỳ Đại hội 10. Bên cạnh đó, trong nhiệm kỳ Đại hội 11, quan hệ chính trị  Việt – Trung lại giảm xuống mức thấp nhất sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ năm 1991, và quan hệ Việt – Trung vẫn phát triển theo hướng có lợi cho Việt Nam, tức là cùng với sự trao đổi kinh tế thương mại song phương về kinh tế không ngừng tăng lên, Việt Nam có thể lấy biện pháp hòa bình để cản trở hoạt động của Trung Quốc ở Nam Hải.

Trong sự phát triển theo kiểu đối lập của nhiều quan hệ song phương đối ngoại của Việt Nam, một trong những đầu mối chính xuyên suốt trong đó là: Điểm chung giữa Việt Nam và các nước lớn trong vấn đề Nam Hải ngày càng lớn, lợi ích chung ngày càng nhiều; đồng thời, bất đồng và tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải ngày càng nhiều, lợi ích chung của “vấn đề trên biển” mà tầng lớp lãnh đạo cấp cao hai nước không ngừng kêu gọi ngày càng khó có thể thực hiện.

Biện pháp của Việt Nam đối đầu kiên định với Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải, phù hợp với nhu cầu của Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ và các nước ASEAN trong sách lược đối với Trung Quốc. Trong lịch sử, Việt Nam nhiều lần trở thành “con bài” kiềm chế Trung Quốc của các nước như Mỹ… Giá trị địa lý của Việt Nam, một mặt là nguồn gốc vận mệnh mang tính bi kịch của Việt Nam, mặt khác cũng là biểu hiện của ưu thế địa lý của Việt Nam. Đối với các nước lớn bên ngoài – nhất là đối với các nước lớn tồn tại xung đột địa lý tiềm tàng hoặc hiện thực với Trung Quốc, giá trị địa lý của Việt Nam là không thể thay thế. Việt Nam dường như là một trong những lựa chọn lý tưởng nhất của tất cả các nước lớn khác muốn kiềm chế Trung Quốc. Về tình cảm, Việt Nam luôn cảnh giác và coi Trung Quốc là kẻ thù tiềm tàng, về chủ quan phù hợp với nhu cầu kiềm chế Trung Quốc của các nước lớn khác. Về khách quan, ưu thế địa lý có lợi cho nước khác dựa vào Việt Nam để kiềm chế Trung Quốc. Từ thời đại thực dân khi các nước lớn phươg Tây can dự vào các công việc của Nam Hải đến nay, các nước lớn bắt đầu từ Pháp đều tận dụng giá trị địa lý của Việt Nam.

2/ Khả năng tiếp diễn và gia tăng mức độ làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải

Bối cảnh trong nước và lợi ích ngoại giao của Việt Nam là nhân tố bối cảnh chủ yếu của việc ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải, và sau Đại hội 12, bốn nhân tố nêu trên không những không biến mất, mà còn tăng lên.

Một là từ góc độ đội ngũ ngoại giao, sau Đại hội 12, chức vụ của ông Phạm Bình Minh không giảm còn tăng, địa vị trong chính phủ được củng cố hơn. Trong nhiệm kỳ Đại hội 11, ông Phạm Bình Minh đảm nhận chức Bộ trưởng Ngoại giao chỉ là ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đây cũng là hiện tượng hiếm có trong lịch sử cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, tức là Bộ trưởng Ngoại giao chưa được vào Bộ Chính trị. Trước đó, không chỉ chức Bộ trưởng Ngoại giao do Phó thủ tướng, ủy viên Bộ Chính trị kiêm nhiệm, thậm chí đại sứ của Việt Nam ở nước lớn xã hội chủ nghĩa đều là ủy viên Bộ Chính trị. Từ đó có thể thấy được tầm quan trọng của ngoại giao trong nền chính trị của Việt Nam. Sau Đại hội 12, ông Phạm Bình Minh thăng chức làm ủy viên Bộ Chính trị kiêm Phó Thủ tướng, địa vị quyết sách trong Đảng Cộng sản Việt Nam tăng lên. Điều này có nghĩa là trong nhiệm kỳ Đại hội 12, quan niệm và đường lối ngoại giao của ông Phạm Bình Minh sẽ ảnh hưởng nhiều hơn đến ngoại giao Việt Nam, vấn đề Nam Hải sẽ vẫn chiếm vị trí quan trọng trong ngoại giao Việt Nam.

Hai là 3 nguy cơ và “cảm giác về nguy cơ” đều chưa giảm xuống, mà còn có thể tăng lên. Những biện pháp mạnh của Trung Quốc ở Nam Hải chắc chắn làm tăng thêm “cảm giác về nguy cơ” về lãnh thổ của Việt Nam; tính không xác định trong cuộc bầu cử Campuchia, cũng như quan hệ Campuchia – Trung Quốc ngày càng mật thiết đều sẽ tăng cường hơn nữa “cảm giác về nguy cơ” của Việt Nam trên phương diện an ninh lãnh thổ. Đại hội 12 chỉ tạm thời giảm bớt nguy cơ về cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời tạm thời gác lại tranh chấp phe phái trong Đảng. Vấn đề Nam hải rất có thể sẽ đan xen với việc củng cố địa vị cầm quyền và tranh giành trong đảng, trở thành con bài hiệu quả để củng cố địa vị cầm quyền và quyền lực trong đảng.

Ba là Nam Hải vẫn là nơi mà Việt Nam sinh tồn và phát triển cần dựa vào, vấn đề Nam Hải vẫn là vấn đề được Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt Nam coi trọng. Vấn đề Nam Hải không những liên quan đến sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, mà còn liên quan đến sự ổn định của địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó đã quyết định sự đầu tư của Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt Nam trong vấn đề này sẽ chỉ tăng lên mà không giảm xuống, và sẽ tác động đến phương diện ngoại giao.

Từ đó có thể dự đoán: Trong nhiệm kỳ Đại hội 12, ảnh hưởng của vấn đề Nam Hải trong ngoại giao Việt Nam không những sẽ không giảm xuống, mà còn tăng lên, xu thế làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải của ngoại giao Việt Nam sẽ tăng lên hơn nữa.

Mục tiêu của việc ngoại giao Việt Nam làm phức tạp hóa vấn đề Nam Hải trong nhiệm kỳ Đại hội 12 có thể bao gồm: (1) Công khai tranh thủ hơn nữa sự “tán thành” của các nước khác trừ Trung Quốc đối với một phần chủ trương và lập trường Nam Hải của Việt Nam; (2) “Tán thành” vụ Tòa Trọng tài về vấn đề Nam Hải, với mục đích là trong tiền đề không trực tiếp đề cập đến vụ Tòa Trọng tài về vấn đề Nam Hải, kiên quyết ủng hộ nội dung thực chất của vụ Tòa Trọng tài về vấn đề Nam Hải. Sau khi hai chữ “tán thành” cũng thích hợp để miêu tả vụ Tòa Trọng tài về vấn đề Nam Hải, như tôn trọng trình tự tư pháp quốc tế và nhấn mạnh luật pháp quốc tế, trên thực tế điều mà Việt Nam muốn ám chỉ là vụ Tòa Trọng tài về vấn đề Nam Hải và trình tự luật pháp của vụ việc này, nhưng sẽ không đề cập rõ ràng đến vụ Tòa Trọng tài về vấn đề Nam Hải, để tránh kích động Trung Quốc; (3) Dựa vào sự viện trợ và ủng hộ của các nước khác, nang cao hơn nữa thực lực hoạt động trên biển của Nam Hải – hải quân và cảnh sát biển; (4) Thông qua ưu thế và con bài địa lý mà vấn đề Nam Hải tạo ra cho Việt Nam, mở rộng và cải thiện tích cực kênh quan hệ giữa Việt Nam với các nước trừ Trung Quốc, đặc biệt là những quốc gia tồn tại xung đột với Trung Quốc trên các lĩnh vực như chiến lược và địa lý, như Mỹ, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ và phần lớn các đối tác của ASEAN, từ đó nâng cao năng lực gián tiếp kiềm chế Trung Quốc của Việt Nam.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

TLTKĐB – 11/04/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s