Trong cuốn sách dựa trên phỏng vấn các doanh nhân Trung Quốc ở nước ngoài, Gordon Redding chia những lý do về hiệu quả và thất bại của họ thành 4 phần: hợp tác theo chiều dọc, hợp tác theo chiều ngang, kiểm soát và sự thích nghi. Về hợp tác theo chiều dọc, ông viết:

Môi trường làm việc không phải là thứ mà công nhân và chủ/quản lý tự nhiên phân chia thành hai phe tâm lý. Họ có xu hướng tương tự như xã hội, về các giá trị, hành vi, nhu cầu và nguyện vọng của họ. Một trong những kết quả của sự hợp tác theo chiều dọc là sẵn sàng liên kết. Xu hướng này cũng được củng cố từ sớm trong suy nghĩ của con người trong thời thơ ấu và đi học, tôn trọng các nhân vật có thẩm quyền, ăn sâu trong truyền thống Nho giáo, có xu hướng được duy trì trong suốt cuộc đời. Mở rộng của sự sẵn sàng hoàn thành công việc là chăm chỉ làm việc kể cả những việc nhỏ nhặt, điều mà có thể là sự kiên trì trong suy nghĩ của công nhân. Yếu tố này hơi mơ hồ nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong hành vi của người Trung Quốc làm việc tại nước ngoài, một dạng nhỏ của đạo đức làm việc, phổ biến khắp nhà máy và văn phòng. Sự siêng năng yêu cầu phải nắm chắc ngôn ngữ Trung Hoa đóng vai trò ở đây, cũng là điều nghiêm ngặt của một gia đình Nho giáo.

Chúng tôi nhận ra rằng thành phần của LTO trong thứ tự các quan hệ theo địa vị và duy trì trật tự này, và kiên trì; không chỉ có chức năng trong việc xây dựng doanh nghiệp mà còn trong những công nhân trong việc thực hiện nhiệm vụ hàng ngày.

Một cuộc điều tra dư luận quốc tế về giá trị và sự thỏa mãn của con người đã yêu cầu người tham gia trả lời hai ý kiến:

1/ Nguyên tắc bình đẳng được nhấn mạnh quá nhiều. Con người nên được trao cơ hội để chọn cuộc sống xã hội và kinh tế của riêng họ theo khả năng của bản thân.

2/ Chủ nghĩa tự do đã và đang làm xuất hiện nhanh chóng và lan rộng sự khác biệt trong cuộc sống kinh tế và xã hội của con người. Con người nên sống cân bằng hơn.

Tỷ lệ người chọn ý kiến thứ hai là 30 người ở Pháp và 71 người ở Nhật Bản đã có tương quan đáng kể với LTO – CVS. Định hướng dài hạn đại diện cho xã hội mà trong đó sự khác biệt về điều kiện kinh tế và xã hội được xem như là không mong muốn. Định hướng ngắn hạn đại diện cho quyền lực, sự khác biệt dựa theo năng lực của cá nhân.

Điều kiện ngang lại liên quan tới mạng lưới. Khái niệm chính của guanxi – quan hệ (phát âm là “gwon shee”) trong kinh doanh châu Á đã được toàn thế giới biết đến. Nó liên quan tới những kết nối của cá nhân; nó liên kết tế bào gia đình với tế bào doanh nghiệp. Trong xã hội có điểm LTO cao, các mối quan hệ cá nhân là điều cần thiết cho sự thành công. Đây là hệ quả hiển nhiên của tập hợp các mối quan hệ có từ trước khi, người dùng vào việc kinh doanh nhưng nó cũng đòi hỏi một tầm nhìn dài hạn. Các mối quan hệ này như tài sản quý giá trong suốt cuộc đời và người ta sẽ không phá hủy nó vì mục tiêu trước mắt, ví dụ như lợi nhuận.

Một kết quả tính thích nghi trong kinh doanh cộng với tầm quan trọng của mạng lưới quan hệ là các nước xuất khẩu thuộc khối LTO cao có điểm trung bình về chỉ số đưa hối lộ (BPI – Bride Payer Index) cao hơn các nước thuộc LTO thấp. Những công ty thuộc nước có LTO cao sẽ dễ dàng chi tiền và dịch vụ cho khách hàng của họ, điều mà Tổ chức Minh bạch Quốc tế đưa vào tiêu chí hối lộ.

Những ảnh hưởng của sự khác biệt LTO – CVS cho cách tư duy

Tiến sĩ Rajendra Pradhan là nhà nhân chủng học người Nepal, trong những năm 1987 – 88 đã làm dự án nghiên cứu ngành trong 10 tháng tại làng Schoonrewoerd. Từ đó, ông đảo ngược lại mô hình quen thuộc mà các nhà nhân chủng học phương Tây đã làm tại các làng phương Đông, Schoonrewoerd là một làng Hà Lan điển hình ở trung tâm tỉnh Nam Hà Lan, với 1500 cư dân và hai nhà thờ thuộc hai giáo phái Tin lành Calvin khác nhau. Tiến sĩ Pradhan đã trở thành người đi lễ nhà thờ thường xuyên ở cả hai nơi, và ông đã thiết lập quan hệ với người dân địa phương chủ yếu thông qua Hội Thánh. Người dân thường mời ông tới nhà dùng cà phê sau giờ lễ và nói chuyện về chủ đề tôn giáo. Ông giãi bày rằng cha mẹ ông rất tôn trọng các nghi lễ Hindu nhưng ông đã ngừng việc này vì tốn nhiều thời gian. Chủ nhà người Hà Lan muốn biết ông tin vào điều gì – một câu hỏi kỳ lạ mà ông cũng không có câu trả lời chính xác. “Mọi người ở đây đều nói về đức tin, đức tin, đức tin”, ông hoang mang nói. “Ở đất nước tôi, chỉ có linh mục và người chủ gia đình tham gia vào các nghi lễ. Những người khác đứng xem và trợ giúp. Ở đây có quá nhiều điều bắt buộc. Đạo Hindu sẽ không bao giờ hỏi: “Bạn có tin vào Chúa?” Tất nhiên ta nên tin nhưng quan trọng là những điều chúng ta làm”.

Bản nghiên cứu giá trị Trung Quốc tiết lộ sự khác biệt trong tư duy của phương Đông và phương Tây. Các câu hỏi của CVS được thiết kế bởi người phương Đông đã không phát hiện ra chiều giá trị của Tránh rủi ro. Bản câu hỏi của IBM và Rokeach được thiết kế bởi người phương Tây đã không tìm ra sự đối nghịch của định hướng dài hạn và ngắn hạn. Ba chiều giá trị còn lại được công nhận bởi cả phương Đông và phương Tây liên quan tới mối quan hệ cơ bản của con người.

Tránh rủi ro được xử lý đến tận cùng với nghiên cứu của xã hội đối với chân lý. Văn hóa tránh rủi ro nuôi dưỡng niềm tin vào chân lý tuyệt đối, và văn hóa chấp nhận rủi ro mang lập trường có tính thực tế hơn. Theo suy nghĩ của phương Tây, điều này là sự lựa chọn quan trọng, phản ánh giá trị chủ chốt. Theo tư duy của phương Đông, những câu hỏi về Chân lý là ít có liên quan. Định hướng dài hạn đối nghịch với định hướng ngắn hạn có thể được giải thích như là sự tương tác với nghiên cứu đạo đức của xã hội. Không có điều ngẫu nhiên nào mà các chiều giá trị này liên quan tới những lời giáo huấn của Khổng Tử. Ông là nhà giáo giảng về đạo đức nhưng lại bỏ qua câu hỏi mở về chân lý. Trong tư tưởng phương Đông, đạo đức là điều then chốt. Trong tư tưởng phương Tây, đạo đức chỉ xếp thứ hai sau chân lý.

Nghiên cứu WVS năm 1990 – 93 yêu cầu người tham gia lựa chọn một trong hai luận điểm:

1/ Có một bản hướng dẫn rõ ràng tuyệt đối về cái gì là tốt, cái gì là xấu. Cái này được ứng dụng cho tất cả mọi người trong mọi hoành cảnh.

2/ Không thể có bản hướng dẫn rõ ràng tuyệt đối về cái gì là tốt, cái gì là xấu. Cái gì tốt hay xấu phụ thuộc hoàn toàn vào hoàn cảnh tại thời điểm đó.

Số người đồng ý với luận điểm 1 thay đổi từ 60% tại Nigeria và 50% tại Hoa Kỳ tới 19% tại Thụy Điển và 15% tại Nhật Bản. Trung bình, những nước nghèo hơn tin tưởng nhiều hơn vào sự hướng dẫn tuyệt đối. Khi những ảnh hưởng của sự giàu ó đã được loại bỏ, các câu trả lời tương quan với LTO –  CVS. Những người được hỏi ở những nước có LTO cao tin tưởng ít hơn vào hướng dẫn chung về cái gì tốt và xấu và tin tưởng nhiều hơn trong việc xem xét các trường hợp.

Sự khác nhau đã được phản ánh phần nào  trong tỷ lệ của án phạt tù: tỷ lệ số người bị nhốt trong một tổ chức trại giam. Năm 2002, tỷ lệ này dao động từ 690 lên 100,000 dân tại Hoa Kỳ trong khi 140 tại Anh, 85 tại Đức, 65 tại Thụy Điển và tới 45 tại Nhật Bản. Trên toàn thế giới, tỷ lệ này liên quan chủ yếu tới các quốc gia bần cùng (cao hơn tại các quốc gia nghèo), nhưng điều đó không giải thích được sự khác biệt giữa các quốc gia giàu có tương đương nhau. Chúng tôi tin tưởng rằng điều này bị ảnh hưởng bởi những gì xã hội xem xét coi là mục đích của hình phạt. Các giải pháp ngắn hạn là bảo vệ xã hội bằng cách ngăn chặn tội phạm. Giải pháp dài hạn là cải tạo tội phạm và cho họ tái hòa nhập với cộng đồng. Nếu tốt và xấu được phân chia rõ ràng, người xấu sẽ bị ngăn chặn. Nếu tốt và xấu tồn tại trong mỗi con người, những người phạm tội nên học trở thành người tốt.

Các tôn giáo phương Đông: Đạo Hindu, Phật giáo, Thần đạo, và Đạo giáo được tách ra khỏi các tôn giáo phương Tây: đạo Do Thái, đạo Thiên Chúa, và đạo Hồi bởi một đường phân chia triết học sâu sắc. Ba tôn giáo phương Tây cùng chung một tư tưởng; về mặt lịch sử, chúng phát triển từ một nguồn gốc. Như đã lập luận, cả ba dựa trên sự tồn tại của chân lý mà có thể đi tới niềm tin vào sự thật. Cả ba tôn giáo đều có sách kinh. Ở phương Đông, không phải Nho giáo, đạo đức không phải tôn giáo, cũng không phải bất kỳ tôn giáo nào dựa trên sự giả định rằng có một chân lý mà cộng đồng loài người có thể nắm lấy. Chúng mang tới nhiều cách khác nhau trong đó con người có thể cải thiện bản thân, tuy nhiên điều đó không bao gồm đức tin, nhưng trong nghi lễ, thiền định, hay trong cách sống. Một vài điều có thể dẫn tới trạng thái tinh thần cao hơn, thậm chí tiến tới thống nhất với Chúa hay các vị thần. Do đó, tiến sĩ Pradhan đã rất ngạc nhiên bởi câu hỏi về những gì mà ông tin tưởng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s