Chủ đề và ý nghĩa

Vấn đề ý nghĩa là một trong những vấn đề khó khăn nhất của ngôn ngữ học. Trong quá trình giải quyết nó nổi lên đặc biệt rõ trong ngôn ngữ học là quan điểm độc thoại một chiều. Lý thuyết tiếp nhận thụ động không cho phép tiếp cận các đặc tính cơ bản và thiết yếu của ngữ nghĩa.

Trong khuôn khổ công trình này, chúng ta buộc phải tự giới hạn trong việc xem xét vấn đề một cách rất ngắn gọn và khái lược. Chúng ta sẽ chỉ cố gắng phác ra những hướng chính để nghiên cứu vấn đề một cách hiệu quả.

Bất kỳ phát ngôn nào, như là một chỉnh thể, đều có một ý nghĩa xác định và duy nhất, một nội dung duy nhất. Hãy gọi nội dung của chỉnh thể phát ngôn là chủ đề của nó. Chủ đề phải duy nhất, nếu không, chúng ta sẽ không có bất kỳ cơ sở gì để nói về một phát ngôn. Chủ đề của phát ngôn, về bản chất, mang tính cá nhân và không lặp lại, như bản thân phát ngôn. Chủ đề là biểu hiện của tình huống lịch sử cụ thể đã sản sinh ra phát ngôn. Phát ngôn “Mấy giờ rồi?” mỗi lần sử dụng lại có một ý nghĩa khác, và do đó, nói bằng thuật ngữ của chúng ta, có một chủ đề khác, tùy thuộc vào tình huống lịch sử cụ thể (lịch sử ở đây được hiểu với một quy mô rất nhỏ), trong đó nó được phát ra và, về bản chất, nó cũng là một bộ phận cấu thành.

Từ đó có thể thấy rằng chủ đề của phát ngôn được xác định không chỉ bởi các hình thức ngôn ngữ cấu thành nên nó – như từ, cấu trúc hình thái và cú pháp, ngữ âm, ngữ điệu – mà còn bởi những yếu tố ngoài lời thuộc về tình huống. Loại bỏ những yếu tố của tình huống, chúng ta sẽ không thể hiểu được phát ngôn, giống như khi ta loại bỏ những từ quan trọng nhất. Chủ đề của phát ngôn là cụ thể – cũng cụ thể như cái khoảnh khắc lịch sử diễn ra phát ngôn ấy. Chỉ những phát ngôn được tiếp nhận cùng với tính cụ thể trọn vẹn, như là một hiện tượng lịch sử, mới có chủ đề. Chủ đề của phát ngôn là như vậy.

Tuy nhiên, nếu chúng ta tự giới hạn ở tính độc nhất và không lặp lại của từng phát ngôn cụ thể và chủ đề của phát ngôn ấy, chúng ta sẽ là những nhà biện chứng tồi. Bên cạnh chủ đề, hay đúng hơn, bên trong chủ đề, phát ngôn còn có ý nghĩa. Ý nghĩa, khác với chủ đề, ở đây được quan niệm là tất cả những yếu tố của phát ngôn được lặp lại tự đồng nhất ở tất cả các lần lặp lại. Tất nhiên, những yếu tố này là trừu tượng: chúng không tồn tại độc lập và cụ thể dưới hình thức biệt lập nhân tạo, nhưng đồng thời chúng cũng là bộ phận không thể thiếu, không thể tách rời của phát ngôn. Chủ đề của một phát ngôn, về bản chất, không thể chia tách được. Ý nghĩa của phát ngôn, ngược lại, được chia nhỏ thành ý nghĩa của các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nên phát ngôn ấy. Chủ đề không lặp lại của phát ngôn “Mấy giờ rồi?” gắn chặt với một tình huống lịch sử cụ thể, không phân chia thành các yếu tố. Còn ý nghĩa của phát ngôn “Mấy giờ rồi?” – là như nhau, tất nhiên, trong mọi hoàn cảnh lịch sử, mà nó được phát ra – tạo nên từ ý nghĩa của các từ, các hình thức quan hệ hình thái học và cú pháp, ngữ điệu nghi vấn… tham gia cấu thành nên nó.

Chủ đề – đó là một hệ thống năng động, phức tạp của các ký hiệu, có xu hướng tương thích với một thời điểm nhất định của quá trình phát triển. Chủ đề – đó là phản ứng của ý thức đang phát triển đối với sự phát triển của thực tại. Ý nghĩa – đó là bộ máy kỹ thuật để thực hiện chủ đề.

Tất nhiên, không thể vạch một ranh giới cơ học tuyệt đối giữa chủ đề và ý nghĩa. Không có chủ đề nào không có ý nghĩa, và cũng không có ý nghĩa không có chủ đề. Hơn thế nữa, thậm chí không thể chỉ ra ý nghĩa của một từ đơn lẻ nào đó (ví dụ, như trong quá trình dạy tiếng nước ngoài) mà không biến nó, một cách gần đúng, thành bộ phận của một chủ đề, tức là tạo một phát ngôn – đưa ra một “ví dụ”. Mặt khác, chủ đề phải dựa vào tính ổn định nào đó của ý nghĩa, nếu không nó sẽ mất hết mối liên hệ với những gì có trước và sau nó, cũng có nghĩa là sẽ mất hết nội dung.

Việc nghiên cứu ngôn ngữ các tộc người nguyên thủy và ngành cổ sinh học ngữ nghĩa hiện đại đưa đến kết luận về cái gọi là tính phức hợp của tư duy nguyên thủy. Người nguyên thủy sử dụng một từ để mô tả nhiều hiện tượng đa dạng mà từ quan điểm của chúng ta thì không hề liên quan đến nhau. Hơn nữa, cùng một từ có thể chỉ những khái niệm đối nghịch – cả trên lẫn dưới, cả đất lẫn trời, cả thiện lẫn ác… Viện sĩ Marr viết: “Chỉ cần nói rằng cổ sinh học ngôn ngữ đương đại, qua các nghiên cứu của mình, cho chúng ta cơ hội tiếp cận đến một thời đại, khi một bộ lạc chỉ có một từ để sử dụng với tất cả các ý nghĩa mà nhân loại ý thức được”.

Nhưng một từ mang mọi nghĩa như vậy liệu có phải là một từ hay không? – Chúng ta có thể đặt câu hỏi. Vâng, đó chính là một từ. Ngược lại, nếu ứng với một phức hợp âm thanh chỉ có một ý nghĩa duy nhất, trơ lỳ và bất biến thì phức hợp đó không phải là từ, không phải là ký hiệu, mà chỉ là một tín hiệu. Tính đa nghĩa – đó là dấu hiệu cấu thành của từ. Về cái từ mang mọi nghĩa mà Marr đề cập, chúng ta có thể nói như sau: từ ấy, về bản chất, hầu như không có ý nghĩa; tất cả là chủ đề. Ý nghĩa của nó không thể tách rời khỏi tình huống sử dụng cụ thể. Tình huống mỗi lần một khác như thế nào thì ý nghĩa của nó cũng mỗi lần một khác như thế. Do đó, chủ đề ở đây bao gồm và hòa tan ý nghĩa, không cho phép nó có một cơ hội nào để kịp ổn định và đồng kết. Nhưng cùng với sự phát triển của ngôn ngữ, với sự mở rộng trữ lượng các phức hợp âm thanh, ý nghĩa bắt đầu đông kết theo các tuyển ứng dụng chủ đề ngôn từ chủ yếu, được lặp lại thường xuyên nhất, trong đời sống tập thể.

Chủ đề, như chúng ta đã nói, chỉ thuộc về chỉnh thể phát ngôn, còn một từ đơn lẻ chỉ có chủ đề khi nó xuất hiện với tư cách là một chỉnh thể phát ngôn. Chẳng hạn, từ chỉ mọi nghĩa của Marr luôn xuất hiện như là một chỉnh thể (đây cũng là lý do tại sao nó không có ý nghĩa ổn định). Ý nghĩa thuộc về một yếu tố và tập hợp các yếu tố trong mối quan hệ của chúng với chỉnh thể. Tất nhiên, nếu chúng ta bỏ qua mối quan hệ với chỉnh thể (tức là với phát ngôn), thì chúng ta cũng làm mất đi ý nghĩ. Đó là lý do tại sao giữa chủ đề và ý nghĩa không thể vạch ra một ranh giới rõ ràng.

Chính xác hơn có lẽ phải trình bày mối quan hệ tương hỗ giữa chủ đề và ý nghĩa như sau: Chủ đề là giới hạn trên, hiện thực của nghĩa; về bản chất, chỉ có chủ đề mới mang ý nghĩa về một cái gì đó xác định. Ý nghĩa là giới hạn dưới của ngữ nghĩa. Ý nghĩa, về bản chất, không có nghĩa gì, mả chỉ là một tiềm năng, khả năng có nghĩa trong một chủ đề cụ thể. Việc khảo sát ý nghĩa của một yếu tố ngôn ngữ nào đó, theo định nghĩa của chúng ta, có thể đi theo hai hướng: hoặc là hướng tới giới hạn trên – đến chủ đề trong trường hợp đó sẽ là nghiên cứu ý nghĩa tình huống của từ trong những điều kiện của một phát ngôn cụ thể; hoặc là hướng tới giới hạn dưới – giới hạn ý nghĩa. Trong trường hợp này, đó sẽ là nghiên cứu ý nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ, nói cách khác, nghiên cứu từ trong từ điển.

Sự phân biệt giữa chủ đề và ý nghĩa cùng với nhận thức đúng đắn về mối quan hệ của chúng có tầm quan trọng rất lớn để xây dựng một khoa học đích thực về ngữ nghĩa. Cho đến nay, tầm quan trọng đó hoàn toàn chưa được hiểu đúng. Sự phân biệt nghĩa thường dùng và nghĩa ít gặp, giữa nghĩa chính và nghĩa phụ, giữa nghĩa hẹp và nghĩa rộng… của từ – về bản chất là chưa đầy đủ. Xu hướng chủ yếu, làm cơ sở cho tất cả những sự phân biệt như thế – xu hướng đề cao khía cạnh cơ bản, thường dùng của ý nghĩa, được xem như là có thực và bền vững – là hoàn toàn sai lầm. Ngoài ra, vẫn còn có sự hiểu lầm về chủ đề mà chúng ta, tất nhiên, tuyệt đối không thể quy thành một nghĩa ít gặp hoặc nghĩa phụ của từ.

Vấn đề tiếp nhận chủ động

Sự phân biệt giữa chủ đề và ý nghĩa trở nên đặc biệt rõ ràng trong mối liên hệ với vấn đề về sự hiểu, mà chúng ta sẽ đề cập vắn tắt ở đây.

Chúng ta đã có lần bàn về lối hiểu thụ động trong ngôn ngữ học, trong đó câu trả lời bị loại bỏ từ trước. Mọi sự hiểu thực sự đều chủ động và là mầm mống của câu trả lời. Chỉ có sự hiểu chủ động mới có chủ đề; một quá trình hình thành chỉ có thể có được nhờ một quá trình hình thành khác.

Hiểu phát ngôn của người khác có nghĩa là tự hướng về phía ngôn ngữ đó, tìm cho nó một vị trí thích hợp trong bối cảnh tương ứng. Với mỗi từ trong phát ngôn mà chúng ta đang trong quá trình hiểu, chúng ta liệt kê ra cả một tập hợp các từ đối ứng của chính mình. Số lượng và trọng lượng của các từ đó càng lớn, cách hiểu của chúng ta càng sâu sắc và chắc chắn.

Như vậy, mỗi yếu tố khả phân mang nghĩa của phát ngôn – và toàn bộ phát ngôn như là một chỉnh thể – được chúng ta phiên dịch sang một ngữ cảnh tương ứng, chủ động khác. Mọi sự hiểu đều mang tính đối thoại. Sự hiểu đối lại với phát ngôn, hệt như những lời đối đáp trong một cuộc đối thoại. Sự hiểu tìm kiếm cho mỗi từ của người nói một đối từ. Chỉ khi cố hiểu một từ trong tiếng nước ngoài ta mới tìm kiếm “chính từ ấy” trong ngôn ngữ của mình mà thôi.

Vì vậy, không thể nói rằng ý nghĩa thuộc về từ theo cách hiểu thông thường. Về bản chất, ý nghãi thuộc về cái từ nằm giữa những người nói, tức là, ý nghĩa ấy chỉ nảy sinh trong quá trình hiểu chủ động, hồi ứng. Ý nghĩa – không nằm trong từ, không nằm trong tâm hồn của người nói, cũng không nằm trong tâm hồn của người nghe. Ý nghĩa là hiệu ứng của tương tác giữa người nói và người nghe trên chất liệu của một phức hợp âm thanh nhất định. Đó là một tia lửa điện, chỉ xuất hiện khi ta kết nối hai điện cực khác nhau. Những người bỏ qua chủ đề, vốn chỉ có ở sự hiểu hồi ứng chủ động, khi cố gắng xác định ý nghĩa của từ chỉ có thể tiếp cận giới hạn dưới, ổn định, tự đồng nhất của nó – thực tế là họ đã ngắt dòng điện mà lại muốn bật đèn. Chỉ có dòng giao tiếp lời nói mới đem lại ánh sáng ý nghĩa cho ngôn từ mà thôi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQGHN 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s