Khi còn trẻ, Buddhadhasa (có nghĩa là “đày tớ của Phật tổ”) đã đến Bangkok để học tập. Lúc đó bình minh của thời kỳ hiện đại hóa trong những năm 30, thời kỳ mà con người lặn ngụp trong những ham muốn và biển lận. Do vậy ông đã quay về thành phố quê hương ông gần Surat Thani để mở một tu viện ở trong rừng. Không có gì là lộng lẫy và xa hoa như người ta thường thấy trong những ngôi chùa lớn khắp Thái Lan, ngôi đền của ông chỉ là một căn nhà đơn giản ở trong rừng, lợp sơ sài để tránh mưa, tại đây các môn đệ của ông nghiên cứu và nhập thiền ngay giữa thiên nhiên, chiêm nghiệm những lời giáo huấn. Đó là nơi để tìm kiếm một cách sống tốt hơn (cuộc sống của thuyết trung dung, dựa vào chân lý của Dharma, tức là con đường để siêu thoát).

Buddhadhasa đã thuyết giáo rằng, nếu chúng ta sống một cuộc sống tham lam không hiểu Dharma thì thiên nhiên sẽ trở nên hỗn loạn: “khi sự vận hành của mặt trời, của mặt trăng và của các tinh tú bị mất phương hướng thì trời sẽ không mưa nữa, chúng ta sẽ chỉ có một vụ lúa tồi tệ, cuộc sống của chúng ta sẽ bị rút ngắn lại, bệnh tật sẽ hoành hành”. (Buddhadhasa, 1990). Nếu như mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên trở nên trầm trọng hơn thì đó là vì con người không hiểu được thiên ý của tự nhiên. Có hai lý do dẫn đến sự hư hại của hệ sinh thái: trước hết là sự tha hóa của tâm hồn chúng ta, và tiếp đó là sự lộn xộn trong xã hội. Nếu con người không đến được với chân lý thì thiên nhiên và xã hội sẽ bị xáo động: kẻ gieo gió sẽ phải gặt bão.

Bhikkhu Payutto đã hệ thống hóa những bài thuyết giáo của mình và đưa ra một “khoa học lâu bền”, tạo cơ sở cho “sự phát triển bền vững” (Payutto 1993).

Ngày nay, phong trào ra đời từ cơ sở đã mở rộng một cách đáng lưu ý ra nhiều vùng khác nhau ở Thái Lan theo sáng kiến của các nhà sư uyên bác. Các nhà sư vì sự phát triển có vai trò quan trọng trong các thành phố cũng như làng mạc. Chúng tôi xin nêu ra ở đây những điểm chung của họ (Nishikawa 1999).

1/ Vì cho rằng sự thay đổi ngoài ý muốn của xã hội và môi trường, như nghèo đói, xung đột và bệnh AIDS, đều bắt nguồn từ sự tham lam của con người, các nhà sư đã áp dụng tư tưởng của thuyết trung dung (loại trừ hai thái cực: lòng tham và chủ nghĩa khổ hạnh) để tái lập cộng đồng khu vực.

2/ Họ chuyên tâm vào việc nghiên cứu, nhập thiền và lao động, chiêm nghiệm những lời giáo huấn để đạt đến sự thức tỉnh chân lý Dharma = sự độc lập về tinh thần, tư tưởng cơ bản của đạo Phật.

3/ Họ bảo vệ rừng và học cách sống chung với thiên nhiên. Họ thường tuyên bố một khu rừng nguyên sinh hoặc một con sông nào đó là một thánh địa, cấm không được phá rừng, giết súc vật cùng tất cả những sinh linh ở đó, biểu thị của thái độ này là mặc tấm hoàng bào của nhà sư.

4/ Họ khuyến khích việc trồng cây, việc canh tác hữu cơ và hỗ hợp. Họ nuôi gia súc và sử dụng phân chuồng. Họ khuyên nên thực hiện đa canh: trồng lúa, rau quả và cây thuốc. Họ làm một vườn ươm trong đền và phân phát cây cho dân làng.

5/ Họ thành lập những cơ sở tín dụng nhỏ như ngân hàng trâu hoặc ngân hàng lúa trong một ngôi đền hoặc trong làng. Dân làng đến vay trâu hoặc vay lú và phải trả khi đã lãm cho chúng sinh sôi. Họ cố gắng để xây dựng một “xã hội trên cơ sở một mối quan hệ nhân văn hơn” thay cho mối liên thị trường, bằng cách đi đầu trong việc kết nối những mối quan hệ trực tiếp với người tiêu dùng trong một xứ sở phát triển hay trong thành phố.

6/ Họ lập trường học, thư viện hay vườn trẻ để khuyến khích giáo dục và hiểu biết.

7/ Họ nhận chăm sóc trẻ mồ côi và trẻ em đường phố, thành lập những cơ sở dạy học. Họ giúp đỡ số trẻ em này có thể hòa nhập tốt hơn với xã hội.

8/ Họ giúp đỡ dân làng bằng những lời răn dạy, khuyến khích họ nhập thiền để tự rèn luyện.

Trong số họ có một vị làm việc trong một dưỡng đường dành cho những người mắc bệnh AIDS, được thành lập ngay trong ngôi đền của ông cách Bangkok 150 km về phía Bắc, là cơ sở mà ngay cả chính quyền cũng đã bỏ rơi. Một vị khác đã hành động để bảo vệ rừng gần biên giới Campuchia. Vào khoảng năm 1990, vùng này là mục tiêu để chính phủ trồng bạch đàn. Kết quả là người dân ở đây đã phải rời bỏ vùng đất của mình trong khi người ta chặt phá cây cối trong khu rừng nguyên sinh này. Một công ty giấy đa quốc gia, được sự tài trợ của Quỹ phát triển như tổ chức Quỹ Hợp tác Kinh tế với Nước ngoài (Overseas Economic Cooperation Fund) của Nhật Bản đã xây dựng một kế hoạch khai thác khu rừng, và để chống lại kế hoạch đó, dân địa phương đã tiến hành một chiến dịch. Thể theo yêu cầu của người dân địa phương, nhà sư Prechak đã tuyên bố rằng khu rừng đó là một thánh địa, nơi các nhà sư tĩnh tâm, ông đã xây dựng một ngôi đền rất đơn sơ bằng của bố thí của người dân địa phương, do đó cấm không được chặt phá cây và sát sinh; người dân phải đối dưới hình thức biểu tình trong trang phục hoàng bào tại một ngọn núi hoặc trong rừng. Nhờ ông, kế hoạch bị treo, nhưng ông vẫn phải xung đột với bọn chặt phá rừng bất hợp pháp và có sự tiếp tay của cảnh sát. Ông đã bị buộc tội và buộc phải rời tu viện. Vấn đề này hiện vẫn đang trong tình trạng tranh chấp (cuối năm 1998). Tháng 3/1995, ông đã nói với tôi rằng thiên nhiên và cuộc sống chỉ là một, và ông đã đấu tranh để bảo vệ cuộc sống đồng thời để cứu lấy thiên nhiên. Nếu chúng ta áp dụng tư tưởng của họ là con người phải sống hài hòa với những sinh linh khác của tạo hóa trong vũ trụ này bằng cách tuân theo quy luật của vũ trụ (thức tỉnh), thì mối quan hệ con người và quan hệ xã hội sẽ được cải thiện. Họ cố gắng thực hiện sự hòa đồng giữa con người với môi trường tự nhiên, và sự thay đổi cách nhìn này về thế giới sẽ tạo ra bước khởi đầu để thiết lập lại thiên nhiên và thực hiện được sự phát triển bền vững.

Hành vi của các nhà sư tự nó đã là một sự phê phán đối với sự phát triển từ bên trên mang tính áp đặt của Nhà nước cũng như của các xí nghiệp. Nó chủ trương có sự cách mạng (theo nghĩa gốc) đối với khái niệm phát triển, từ phát triển áp đặt đến phát triển nội sinh mang tính người. Hành động đó phải được xem như là một trong những con đường gắn bó một cách tự nhiên với sự hình thành một xã hội công dân theo kiểu châu Á.

Kết luận

Các nước châu Á, những nước đã trải qua thời kỳ tăng trưởng mạnh trong mười năm qua, được miêu tả như là “sự phát triển của đàn ngỗng bay”, sự tăng trưởng của họ được so sánh với cánh  bay của những con ngỗng trời, bay liên tục, hiện đang phải đương đầu với hai cuộc khủng hoảng cùng một lúc: khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng môi trường, do đó không thể có sự phát triển bền vững được.

Tình cảnh đó diễn ra trong khuôn khổ của quá trình toàn cầu hóa kinh tế: Nhà nước đã dành ưu tiên cho việc phát triển đất nước bằng cách chấp nhận sáng kiến bảo hộ thuế quan, nhấn mạnh đến việc kiểm soát nền kinh tế. chế độ độc quyền đã thúc đẩy tăng trưởng mạnh, nhờ vào chủ nghĩa tư bản sinh lời. Và chủ nghĩa tư bản thế giới, trong khi đòi hỏi phải mở cửa nền kinh tế và nới lỏng sự kiểm soát của Nhà nước, đã dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế nhờ vào việc xuất khẩu ra thị trường thế giới. Hiện nay, với sự tiến triển của quá trình toàn cầu hóa kinh tế, chúng ta ngày càng rơi vào những mâu thuẫn có nguồn gốc là sự đối kháng tiềm ẩn giữa chủ nghĩa chuyên quyền và chủ nghĩa tư bản, nó áp đặt  sự ổn định của tỷ giá hối đoái. Một khi các cơ sở kinh tế hoạt động tồi thì đồng tiền sẽ dễ dàng trở thành đối tượng đầu cơ, khiến cho chỉ trong chớp mắt, thị giá hạ xuống và làm tiêu tan công sức của nhiều năm dài lao động. Dù thế nào đi nữa thì sự phát triển do Nhà nước áp đặt liên kết với các công ty đa quốc gia cũng đã hủy hoại một cách đáng kể môi trường của châu Á cùng với những cơ sở của sự phát triển bền vững.

Đứng trước cuộc khủng hoảng kinh tế và môi trường như vậy, cư dân cùng những công dân ở đây đã cùng nhau dấn thân vào tiến trình phát triển làm cho nó mang tính dân chủ hơn và để vượt qua những mâu thuẫn trong tiến trình phát triển. Dưới góc độ triết học, cần nhớ rằng ở Thái Lan, triết học Phật giáo bằng cách cố thuyết phục chúng ta rằng những biến động trong tâm hồn chúng ta sẽ đưa chúng ta đến chỗ hủy hoại những mối quan hệ giữa con người, và suy đến cùng là hủy diệt giới tự nhiên bao quanh chúng ta, đã mang lại cho phong trào xuất phát từ cơ sở của những người dân làm một chỗ dựa về mặt tư tưởng.

Nếu “sự phát triển bền vững” ở châu Á còn là điều khả dĩ thì có lẽ nhất thiết phải có sự kết hợp những yếu tố đã nêu ở trên: sự tham gia của nhân dân trong tiến trình tăng trưởng nhằm nhân văn hóa nó, phát triển nền dân chủ và phát triển xã hội công dân, phê phán xã hội gia trưởng mà sự tăng trưởng là do Nhà nước và các công ty đa quốc gia áp đặt, sự chín muồi của những tư tưởng về quyền tự chủ cũng như tư tưởng về sự hòa đồng với thiên nhiên. Ngày nay những tư tưởng về một sự nở rộ của nhân cách và của một “sự phát triển nhân văn hơn” hình như được đặt ra như một mục tiêu phát triển mới thay vì sự phát triển áp đặt, đặc trưng của thời hiện đại, mà những người chủ xướng của chính nó là chính phủ và các xí nghiệp lớn. Tư tưởng đó cũng được chấp nhận bằng “sự phát triển mang tính nhân văn” hay là “sự phát triển tập trung vào nhân dân” do Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc chủ trương trong thập kỷ này. Điều lý thú là được chứng kiến sự ra đời và phát triển trong trái tim chúng ta những tư tưởng tìm kiếm bản sắc, tính tự chủ, mối liên hệ mới với xã hội và thiên nhiên. Những tư tưởng đó từ lâu đã được các nhà triết học lớn trên thế giới chủ trương, kể cả Phật tổ (người ta có thể tìm được thuật ngữ tương đương cho sự phát triển trong giáo huấn của đạo Phật, nó có nghĩa là sự thức tỉnh đối với chân lý tối thượng hay Dharma). Bước ngoặt đó cùng với sự đào sâu những tư tưởng liên quan đến sự phát triển có nghĩa là ở châu Á, tầm quan trọng của sự tiến hóa nội sinh ngày càng có trọng lượng hơn so với sự phát triển đưa vào từ bên ngoài, từ các nước tiên tiến hơn (mà điển hình là “học thuyết mưa dầm thấm lâu”). Phong trào này tương đương với phong trào của nhân dân được nảy sinh và phát triển khắp nơi trên thế giới, mà người ta có thể gọi đó là “toàn cầu hóa ý thức”. Điều này mở ra một con đường khác cho toàn cầu hóa so với toàn cầu hóa tự do của các xí nghiệp đa quốc gia và của những tổ chức quốc tế như IMF và Ngân hàng Thế giới (WB).

Nếu các nước châu Á có thể dấn thân một lần nữa vào con đường phát triển trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, thì họ phải lựa chọn: hoặc là gắn kết hơn với chủ trương toàn cầu hóa tự do như đã nêu trên đây, hoặc là tự giam mình vào chủ nghĩa Nhà nước truyền thống mà xu hướng của nó đã xuất hiện trong một số nước nhưng đã thất bại vì những thất bại của Nhà nước ngày càng rõ ràng hơn trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, và những thất bại đó còn bị đẩy nhanh hơn nữa do trào lưu của xã hội công dân đang xuất hiện trong khu vực này vào cùng thời kỳ, hoặc là họ phải tìm ra một con đường thứ ba của nền dân chủ xã hội bằng cách kết hợp với xã hội công dân đang đề xướng một kiểu toàn cầu hóa khác với toàn cầu hóa thị trường do các doanh nghiệp lớn thúc đẩy: toàn cầu hóa xã hội công dân và toàn cầu hóa ý thức.

Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi đã có thể chứng minh, nếu như các nước châu Á muốn một lần nữa đi theo con đường phồn vinh và phát triển, thì chỉ có con đường thứ ba mới có thể đảm bảo cho sự họ phát triển bền vững. Nhưng, để có thể đi theo con đường phát triển bền vững tập trung vào con người thì hiển nhiên là nhà nước phải bắt đầu bằng việc cải cách chính mình, bằng việc dân chủ hóa và bằng việc tham gia của xã hội công dân.

Người dịch: Quang Lung

Nguồn: Jun Nishikawa – L’economie d’Asie – Pacifique: perspective au début du XXIe siècle – quelle mondialisation peut-elle apporter au “développement durabel” – “Economies et Sociétés”, Hors Série, No.36, 11 – 12/1999, p. 9 – 27.

TN 2000 – 96 & 97

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s