Bình luận

Sylviane Guillaumont-Jeanneney

Giáo sư Đại học Auvergne và Trung tâm nghiên cứu về phát triển quốc tế (CERDI)

Daniel Cohen và Richard Portes xuất phát từ ý tưởng có hai loại khủng hoảng tài chính là khủng hoảng thanh khoản, vốn đòi hỏi phải có sự can thiệp của người cho vay cuối cùng, và khủng hoảng thanh toán, vốn đòi hỏi phải cơ cấu lại khoản nợ chính phủ. Như các tác giả đã nhấn mạnh, trên thực tế rất khó xác định được rạch ròi các cuộc khủng hoảng: hiếm khi có cuộc khủng hoảng nào chỉ đơn thuần thuộc vào một trong hai dạng trên và nhất là do phản ứng của thị trường nên khủng hoảng thanh khoản lại tự động biến thành khủng hoảng thanh toán. Chính vì vậy, trước những hậu quả nghiêm trọng của khủng hoảng tài chính đối với các nước đang phát triển vay nợ cũng như đối với nền kinh tế thế giới, các tác giả phân tích làm thế nào để tránh cho khủng hoảng thanh khoản không  biến thành khủng hoảng thanh toán, và đối với khủng hoảng vỡ nợ, thì phải xử lý sao đây. Chúng tôi sẽ đề cập theo hai mảng đó của nội dung phân tích.

1/ Phòng ngừa khủng hoảng

Để góp phần phòng ngừa các cuộc khủng hoảng tài chính, một giải pháp độc đáo đã được đưa ra: “Các nước thành viên của IMF phải cam kết tiên kiến về một chế độ nợ cho phép có động thái phòng ngừa được sự biến động của nợ vay”. Theo chế độ này, khi chênh lệch lãi suất của khoản nợ đạt tới 300 hay 400 điểm cơ sở, nước đăng ký theo “chế độ vay nợ” này sẽ từ bỏ việc vay vốn trên thị trường và ký một thỏa thuận tài trợ với IMF. Đề xuất này dựa trên hai lý lẽ khác nhau mà chúng ta thấy là chưa thật thỏa đáng.

Thứ nhất, các tác giả chỉ rõ rằng nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng không chỉ là việc mất lòng tin của thị trường (dẫn đến việc tăng lãi suất quá cao) mà còn là các yếu tố liên quan đến cơ cấu và chính sách kinh tế. Điểm nổi bật trong đề xuất của các tác giả là họ muốn làm “cú đúp”: Giải pháp đó hướng tới việc giảm thiểu nguy cơ xảy ra khủng hoảng lòng tin bằng cách trấn an các đối tượng cho vay rằng các khoản tín dụng của họ không phải chịu thiệt vì những khoản vay sau này của các nước con nợ với những điều kiện phi lý: đề xuất đó hẳn sẽ khiến cho các nước đang phát triển phải xử lý các khó khăn của mình ngay từ ban đầu, nói cách khác là vào thời điểm mà người ta có thể cho rằng việc giải quyết vấn đề có thuận lợi hơn.

Thứ hai, các tác giả nhấn mạnh đến những khó khăn của các giải pháp đòi hỏi phải có khâu thẩm định trước như phương thức tín dụng phòng ngừa mới của IMF mà cho đến nay vẫn chưa có nước nào muốn sử dụng. Thực tế là hiện không có sự đồng thuận quốc tế về “chính sách kinh tế chuẩn. Nếu như đòi hỏi các nước muốn được thẩm định trước phải có một mức độ minh bạch tài chính nhất định là chuyện bình thường, thì việc đòi hỏi họ phải áp dụng chế độ ngoại hối tự do hay các quy định khắt khe trong chính sách tài khóa lại có thể gây tranh cãi. Ví dụ như vấn đề then chốt là liệu khi xem xét thâm hụt công thì các khoản đầu tư của nhà nước có được tính vào phần chi phí hay không hiện cũng chưa dứt khoát. Ưu điểm của đề xuất được đưa ra ở đây là có thể thay đổi được chương trình điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện đặc thù của mỗi nước và phù hợp với nguyên nhân gây ra những khó khăn của từng nước. Hơn nữa, tính tin cậy của thủ tục thẩm định trước thể hiện ở chỗ các nước không được thẩm định sau này sẽ không được hưởng sự trợ giúp của IMF giống như các nước đã được thẩm định, và đó là một cam kết mà cộng đồng quốc tế khó có thể chấp nhận. Còn ở đây, chính nước có liên quan tự thẩm định mình duy nhất bằng cam kết về cách thức vay nợ.

Tuy nhiên, “chế độ vay nợ” mới này, theo tôi, đặt ra bốn vấn đề cần được phân tích sâu để đề xuất có thể thể áp dụng được:

+ Khả năng cam kết này sẽ dành cho những nước nào? Như chúng ta vừa thấy, sẽ không có chuyện IMF đứng ra từ đầu thẩm định các nước, bởi như thế là đã quay lại nguyên tắc của phương thức “tín dụng phòng ngừa” mà theo các tác giả chỉ nên dành cho những nước chưa bao giờ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Nhưng một điều hết sức quan trọng là cam kết mà nước tham gia “chế độ vay nợ” đưa ra phải đáng tin cậy, vì một trong những mục tiêu của nó là giảm thiểu chênh lệch lãi suất và nhờ đó giảm thiểu nguy cơ hiệu ứng hòn tuyết lăn đối với khoản nợ vay. Chênh lệch lãi suất ở thời điểm cam kết thấp hơn 300 điểm cơ sở liệu đã đủ chưa? Hay cần hạn chế phạm vi áp dụng của “chế độ vay nợ mới” bằng cách yêu cầu thêm các quy định về khả năng thanh toán? Chúng ta liệu có thể xác định được các quy tắc này một cách tổng quát không?

+ Ai sẽ xác định ngưỡng chênh lệch lãi suất mà trên ngưỡng đó thì các nước mới nổi phải từ bỏ việc vay vốn tư nhân và chuyển sang làm việc với IMF? Ngưỡng này có nên đồng nhất tất cả các nước không? Vấn đề này liên quan chặt chẽ với vấn đề trước. Trong cải hai trường hợp, muốn giải đáp được thì cần phân tích sâu mối quan hệ giữa chênh lệch lãi suất và sự bùng nổ khủng hoảng, trên cơ sở tính đến cả những yếu tố, chẳng hạn như cơ cấu nợ hay cơ cấu hàng xuất khẩu thực tế, dường như là những điều kiện quy định mối quan hệ này. Có rất nhiều tài liệu về việc dự báo khủng hoảng và về các chỉ số cảnh báo có thể giúp chúng ta hiểu rõ được khía cạnh này. Mặt khác, bản báo cáo cũng nêu ra ví dụ của Mexico và Hàn Quốc là hai nước bị khủng hoảng dù chênh lệch lãi suất không cao. Mexico rõ ràng là do thâm hụt vãng lai quá lớn, còn Hàn Quốc là do nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng quá cao trong cơ cấu nợ. Cho dù hậu quả của những cuộc khủng hoảng ở Mexico và Hàn Quốc không ghê gớm như ở các nước khác, thì việc tránh được các cuộc khủng hoảng đó vẫn là điều mong muốn, dù việc phòng tránh chắc chắn là cũng không dễ dàng gì hơn so với các cuộc khủng hoảng khác.

Hai vấn đề sau đây theo tôi còn khó giải quyết hơn:

+ Cụ thể thì bản chất của việc nước đang phát triển cam kết nhờ cậy đến IMF là gì? Bản báo cáo nêu rõ là việc tài trợ của IMF không nên mang tính tự động và như vậy có lẽ cũng tuân theo những điều kiện như được quy định với các phương thức truyền thống khác (vay tín dụng và vay tín dụng mở rộng). Chắc chắn là khó lòng có thể làm khác đi được. Nhưng điều gì sẽ xảy ra trong trường hợp quốc gia có liên quan và IMF không thống nhất được về chương trình hồi phục kinh tế? Khả năng là hoàn toàn có thể tính đến, đặc biệt là khi các biện pháp triển khai lại liên quan đến tài chính công và phải được nghị viện thông qua. Liệu chúng ta có phải coi cam kết của quốc gia có liên quan không chỉ là việc nhờ cậy IMF, mà còn phải chấp nhận chương trình được đàm phán, bất kể những đòi hỏi cuối cùng được chốt lại sẽ như thế nào? Cách hiểu quá nặng nề như vậy về cam kết được đưa ra tạo cho IMF một quyền lực hơi thái quá và điều này đi ngược lại những suy nghĩ hiện tại của cộng đồng quốc tế và của chính IMF về sự cần thiết phải để cho giới chức trách của các nước được trợ giúp điều chỉnh chính sách kinh tế cho phù hợp – vốn được coi như điều kiện bảo đảm thành công của các chương trình điều chỉnh. Câu hỏi này càng trở nên quan trọng vì các nhà kinh tế hiện cảm thấy không mấy tin tưởng về tính hiệu quả của các chính sách thoát khỏi khủng hoảng (các chính sách phòng ngừa cũng bị nghi ngại như vậy và thậm chí còn hơn thế) và vì mỗi nước là một trường hợp riêng. Ngược lại, phải chăng chúng ta nên hiểu rằng các nước chỉ cần thương lượng với IMF và họ sẽ được giải phóng khỏi cam kết của mình về các điều kiện tài chính khi việc vay nợ trong trường hợp thương lượng thất bại? Cách hiểu hạn hẹp thứ hai này về cam kết mà các nước đưa ra làm mất đi rất nhiều ý nghĩa trong cam kết của các nước mới nổi và như vậy là cũng làm mất đi tính hiệu quả của cam kết này trong việc phòng tránh các cuộc khủng hoảng tự hành.

+ Cuối cùng, cơ chế được đề xuất đúng là đã biến IMF thành “người cho vay đầu tiên”. Trên thực tế thì đó chính là việc thay thế các món vay ngân hàng và các đợt phát hành chứng khoán trên thị trường bằng các khoản vay của IMF (khi khu vực tư nhân không muốn cho các quốc gia liên quan vay thêm, và thậm chí, không muốn tái đầu tư các khoản cho vay hết hạn) mà không tăng (vì coi là nguy hiểm) lãi suất. Nhưng bản báo cáo, mặt khác, lại nhấn mạnh là IMF không có nguồn lực cho phép mình thực sự đảm nhiệm được vai trò của người cho vay cuối cùng. Cho dù một trong những mục tiêu của cơ chế được đề xuất là phải cải cách chính sách kinh tế của các nước đang phát triển trước khi tình hình ở các nước này trở nên quá tồi tệ, chưa chắc là trong trường hợp chịu ảnh hưởng ngoại sinh nghiêm trọng và bất ngờ (chẳng hạn như hoạt động ngoại thương bị suy giảm nghiêm trọng) thì lượng vốn phải huy động đã là không đáng kể.

(còn tiếp) 

Nguồn: Hội đồng phân tích kinh tế – Khủng hoảng nợ, phòng ngừa và giải pháp – NXB CTQG 2005

Daniel Cohen từ Đại học Sư phạm, CEPREMAP và CEPR (Pháp), Richard Portes từ London Business School, EHESS và CEPR.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s