Ross Babbage

Chính sách của Mỹ và các đồng minh thân cận của nước này ở Biển Đông đã thất bại. Những tuyên bố lặp đi lặp lại về lợi ích có giới hạn kèm theo đó là sự qua lại không thường xuyên của các tàu và máy bay đã không ngăn cản được chương trình xây dựng đảo của Bắc Kinh, cũng không có hành động chặn trước đáng kể nào đối với công cuộc của Trung Quốc tìm kiếm sự chi phối quân sự trong khu vực.

Khi tìm cách giảm tới mức thấp nhất nguy cơ đối đầu ở mỗi bước đi, Mỹ và các đồng minh của họ trên thực tế đã từ bỏ quyền kiểm soát một khu vực có tầm chiến lược lớn và thực hiện một tiến trình đầu hàng dần dần. những tiền lệ xấu đã được đặt ra, và các thông điệp về sự kém cỏi được truyền tới cộng đồng toàn cầu. Ở những phần của Tây Thái Bình Dương, các đồng minh có nguy cơ đánh mất vị thế mà họ nắm giữ từ lâu là các đối tác an ninh được ưa thích.

Tại sao Washington và các thủ đô đồng minh khác lại vụng về đến vậy? Tại sao họ lại mất nhiều thời gian đến thế để phát triển một chiến lược đáp trả hiệu quả trước hành động xây dựng đảo và quân sự hóa của Bắc Kinh ở Biển Đông? Mọt phần lý do là cách mà Trung Quốc khẳng định chủ quyền của họ đối với khoảng 80% tuyến đường thủy chiến lược này. Biển Đông là một mạch đường thủy chở hơn một nửa lượng hàng hóa thương mại của thế giới và đóng vai trò như là một tuyến đường chuyển tiếp quan trọng cho các quân đội của Mỹ và nhiều đồng minh và bạn bè của họ. Trong suốt 5 năm qua, dấu chân của Bắc Kinh đã mở rộng rõ rệt với việc nạo vét các đảo mới và xây dựng các cơ sở cho việc giám sát, cho các lực lượng phòng không, chống hạm và tấn công. Chiến dịch của Bắc Kinh được tiến hành một cách thông minh thông qua một loạt bước đi kế tiếp nhau có mức độ tăng dần, mỗi bước đi nằm trong số đó nằm dưới ngưỡng châm ngòi cho một phản ứng mạnh mẽ của phương Tây. Kết quả là, Bắc Kinh giờ đây có những cơ sở quan trọng trên 12 đảo ở Biển Đông và cho đến nay có sự hiện diện của quân đội, cảnh sát biển và lực lượng dân quân trên biển lớn nhất trong khu vực.

Trong số những khả năng quân sự mà Trung Quốc có vẻ sắp thiết lập trên các đảo nhân tạo này có các cơ sở giám sát và thu thập thông tin tình báo, các căn cứ tên lửa chống hạm và chống máy bay tầm xa, và vô số hệ thống phòng thủ tên lửa và súng. Ba trong số các đảo trong nhóm đảo Trường Sa, hướng tới giữa Biển Đông, giờ đây sở hữu các sân bay có chiều dài 10000 feet, thừa sức để xử lý các hoạt động của máy bay Boeing 747. Những bức tường ngăn kiên cố để làm nhà chứa 24 máy bay ném bom chiến đấu sắp hoàn thành trên 3 đảo này cùng với cái có vẻ là các cơ sở rộng lớn để bảo dưỡng và dự trữ nhiên liệu và các nguồn cung khác. Việc vận hành máy bay từ các cơ sở này có thể có tầm hoạt động tới biển Andaman, Bắc Australia, và Guam. Những đảo mới được xây dựng này có vẻ cũng có khả năng cất giữ, cũng như vận hành trong thời gian ngắn, số lượng đáng kẻ các tên lửa hành trình và đạn đạo tầm ngắn và tầm cận trung để tấn công cả các mục tiêu có cơ sở trên đất liền lẫn các thuyền trên biển đến tận biển Sulu ở Philippines và Singapore và Malaysia về phía Nam.

Những cơ sở ở cảng cũng đã được xây dựng trên các đảo này có khả năng tiếp nhiên liệu và bổ sung thêm những số lượng đáng kể các tàu của hải quân, cảnh sát biển và lực lượng dân quân biển. Ngoài ra, các đảo này có vẻ có tiềm năng hỗ trợ một mạng lưới giám sát âm thanh dưới nước trên khắp Biển Đông mà sẽ củng cố đáng kể các khả năng của Trung Quốc theo đuổi những hoạt động nhằm vào tàu ngầm của đồng minh trên chiến trường.

Vì 3 đảo chính này không quá nhỏ, nên có không gian để phân tán hầu hết các tài sản của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) được triển khai trong một cuộc khủng hoảng và làm phức tạp hoạt động nhắm mục tiêu của các lực lượng đồng minh. Đá Chữ Thập giờ đây có quy mô của một căn cứ máy bay chiến đấu trên đất liền. Đá Subi lớn hơn khoảng 50% và gần như có thể so sánh được với Căn cứ Hải quân Trân Châu Cảng về diện tích. Đá Vành Khăn cũng lớn hơn đáng kể và có kích thước vừa vặn bằng Quận Columbia. Kết quả là, Trung Quốc đang tiến tới biến đổi Biển Đông thành cái gì đó gần giống như một tuyến đường thủy nội địa được bảo vệ nghiêm ngặt. Hiện tại, việc qua lại không gây hại, đặc biệt là của các tàu thương mại, đang được tôn trọng. Tuy nhiên, Bắc Kinh nói rõ rằng các điều khoản và điều kiện hoạt động của nước ngoài, kể cả của các nước ven biển khác, sẽ do Trung Quốc quyết định và thực thi. Giới chức trách Trung Quốc có liên quan đã phát đi tín hiệu rằng Bắc Kinh đang xem xét tuyên bố một Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) đối với toàn bộ Biển Đông. Giờ đây các cơ sở quân sự gần hoàn thành sẽ cho phép các lực lượng Trung Quốc thực thi bất kỳ tuyên bố nào với việc cho các máy bay chiến đấu áp sát máy bay không tuân thủ. Mặc dù phần lớn giới quan sát quốc tế hầu như chẳng nghi ngờ rằng các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, nhưng phán quyết của Tòa Trọng tài hồi tháng 7/2016 đã làm rõ mức độ vi phạm của Trung Quốc. Tòa nhất trí kết luận rằng không có cơ sở pháp lý nào cho tuyên bố về quyền lịch sử của Trung Quốc đối với các vùng biển và các đảo nhân tạo nằm bên trong “đường 9 đoạn” mà Bắc Kinh tuyên bố. Khi đối đầu với sự bành trướng lãnh thổ và quân sự của Trung Quốc ở Biển đông, các nhà lãnh đạo đồng minh gần như luôn phản ứng bằng cách lặp lại một niệm chú mang tính tiêu chuẩn: Chúng ta có lợi ích mạnh mẽ trong việc qua lại tự do trên biển và trên không, chúng ta không có tuyên bố chủ quyền quốc gia đối với các vùng lãnh thổ trong khu vực, và chúng ta kêu gọi tất cả các bên tham gia hành xử kiềm chế và giải quyết các tuyên bố chủ quyền cạnh tranh phù hợp với luật pháp quốc tế. Trong sự ủng hộ mang tính biểu tượng những lợi ích này, các tàu và máy bay của đồng minh quá cảnh định kỳ qua khu vực, mặc dù họ hiếm khi thách thức trực tiếp các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quóc. Phản ứng này rõ ràng đã không ngăn chặn được sự bành trướng lãnh thổ của Bắc Kinh.

Tại sao cách tiếp cận của Mỹ và các đồng minh thân cận của họ lại rụt rè và không đem lại kết quả gì đến vậy? Có một số nhân tố đóng vai trò.

Thứ nhất, nhiều người ở Washington và các thủ đô đồng minh khác coi các vấn đề ở Biển Đông là những điều gây rối trí không mong muốn hầu như chẳng có tầm quan trọng gì mà tốt nhất là nên phớt lờ. Một số nhà hoạch định chính sách và nhà bình luận đã lập luận rằng hầu như chẳng có ý nghĩa gì khi có nguy cơ phải đối đầu với một cường quốc chủ chốt xung quanh “một vài bãi đá rải rác” ở một chiến trường rất xa.

Thứ hai, mức độ quan trọng tương xứng với tương lai chiến lược của Biển Đông có sự khác nhau rất lớn giữa các đồng minh và đối tác. Quan điểm chung ở Washington là Biển Đông quan trọng nhưng không phải là sống còn. Nó chỉ đơn giản là một trong nhiều khu vực rắc rối mà Mỹ phải đối phó. Ở Tokyo, Seoul và Canberra, Biển Đông quan trọng hơn nhiều vì giá trị chiến lược và tầm quan trọng trọng yếu thực chất của nó đối với những đối tác thân cận của họ là các nước thành viên biển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Đối với các nước ven biển ở Biển Đông, cán cân chiến lược và chủ quyền thực sự của khu vực này là trọng yếu đối với an ninh và sự thịnh vượng kinh tế trong tương lai của họ. Những sự khác biệt trong ưu tiên giữa các đồng minh Tây Thái Bình Dương và những nước bạn bè của họ đang đặt áp lực lên các mối quan hệ an ninh lâu dài.

Sự kiềm chế nghiêm trọng thứ ba được đặt ra bởi mô hình liên minh trung tâm và các vệ tinh đã tồn tại ở Tây Thái Bình Dương kể từ những năm 1950. Hợp tác liên minh chéo và việc lập kế hoạch an ninh kết hợp không được phát triển tốt giữa các đồng minh Tây Thái Bình Dương. Trong khi những năm gần đây có một số tiến bộ trong việc tăng cường phối hợp hành động giữa Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc và một số nước đối tác ở Đông Nam Á, thì điều đó vẫn còn hạn chế và phần lớn không thường xuyên. Washington chắc chắn đã khuyến khích hợp tác liên minh chéo thân thiết hơn nhưng còn một chặng đường dài để tiến tới tiếp cận được kiểu lập kế hoạch an ninh kết hợp mà thành thường lệ ở châu Âu. Kết quả là, hợp tác liên minh kịp thời, hiệu quả và thực sự nhằm ứng phó với các hoạt động của Bắc Kinh ở Biển Đông đã không dễ dàng.

Thứ tư, phần lớn công dân, gần như tất cả nhà báo và nhiều đại diện quốc hội và nghị viện được cung cấp thông itn một cách nghèo nàn về các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông và, quả thực, hành vi chiến lược rộng hơn của Bắc Kinh trong suốt thập kỷ qua. Phương tiện truyền thông chính thống và các cơ quan của chính phủ phương Tây đã không làm tốt việc cho thấy thực tế của cái đã và đang diễn ra và giải thích những tác động.

Thứ năm, việc phát triển một sự ứng phó hiệu quả trước chủ nghĩa tiệm tiến của Trung Quốc ở Biển Đông về bản chất là khó khăn. Bắc Kinh đã sử dụng một chiến lược rất tinh vi và khái niệm hoạt động tác chiến có thể được thực hiện mà không thách thức các cam kết liên minh của Mỹ hoặc trực tiếp đối đầu với các lực lượng của Mỹ và đồng minh. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo phương Tây phải đối mặt với vô số sự rối loạn về chính trị và bộ máy hành chính quan liêu, và khó có thể duy trì được sự chú ý của họ trên chiến trường này.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://warontherocks.com/2016/12/it-is-high-time-to-outmaneuver-beijing-in-the-south-china-sea/

TLTKĐB – 06/01/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s