Đây là câu hỏi không liên quan tại phương Đông. Điều gì con người làm là quan trọng? Nhà thần thoại học người Mỹ Joseph Campbell so sánh huyền thoại tôn giáo của phương Đông và phương Tây, kết luận rằng đạo Do Thái, đạo Thiên Chúa và đạo Hồi tách biệt về vật chất và tinh thần, trong khi các tôn giáo của phương Đông lại có sự tích hợp về triết học. Sự khác biệt trong tư tưởng này giải thích tại sao bảng câu hỏi phương Tây lại đúc rút được bốn chiều giá trị liên quan tới chân lý; bảng câu hỏi do phương Đông soạn tìm thấy chiều giá trị thứ năm liên quan tới đạo đức.

Dữ liệu từ cuộc điều tra ý kiến dân chúng về giá trị con người và sự thỏa mãn đề cập trước đó chỉ ra rằng người dân của những nước có LTO cao hài lòng nhiều hơn những người dân của những nước có LTO thấp với những đóng góp cá nhân tới: “Chú ý tới các mối quan hệ hàng ngày của con người, đóng góp nhiều hơn cho gia đình, hàng xóm, bạn bè, người quen” và với “nỗ lực xóa đi sự bất bình đẳng và bất công xã hội, mang lại cuộc sống bình đẳng và công bằng cho mọi người”. Những người phản hồi theo văn hóa định hướng ngắn hạn cảm thấy ít hài lòng với sự đóng góp của họ tới những nguyên nhân tốt. Trong một nền văn hóa tin tưởng vào các tiêu chí tuyệt đối về điều tốt và cái xấu, thật khó để hài lòng với những nỗ lực của mình trong việc làm điều tốt. Tại các nước theo định hướng dài hạn, mối quan tâm mạnh mẽ tới đạo đức cho phép tích hợp đạo đức với thói quen (thực tiễn). Đạo đức không dựa trên tiêu chuẩn tuyệt đối cho cái tốt và cái xấu, cái mà đạo đức dựa vào là hoàn cảnh, và khi cư xử có đạo đức, con người không cảm thấy cần phải làm nhiều hơn để điều chỉnh sự bất công của xã hội.

Các mối quan tâm của phương Tây tới chân lý được hỗ trợ bởi một tiên đề logic phương Tây rằng một phát biểu loại trừ mặt bên kia: Nếu A là đúng, B là mặt ngược lại của A thì B phải là sai. Logich phương Đông không có tiên đề như vậy. Nếu A là đúng, mặt đối diện của A là B cũng có thể đúng, và chúng cùng nhau tạo nên trí tuệ vượt trội hơn cả A và B. Chân lý con người trong cách tiếp cận triết học này luôn là một phần thiên vị. Người dân ở các nước Đông Á và Đông Nam Á không thấy có vấn đề gì trong việc áp dụng các yếu tố tôn giáo khác nhau, hoặc tán thành hơn một tôn giáo cùng lúc. Với các nước có nền triết học thực tiễn, hệ thống đạo đức như Nho giáo có thể trở thành nền tảng của xã hội. Tại phương Tây, quy tắc tạo đức có xu hướng bắt nguồn từ tôn giáo: đạo đức từ chân lý.

Theo nhà nghiên cứu Hán học người Đan Mạch Vener Worm, người Trung Quốc ưu tiên tính hợp lý. Tính hợp lý là khái niệm trừu tượng, phân tích, và lý tưởng với một xu hướng cực kỳ hợp lý, trong khi tinh thần thường con người hơn, và trong tiếp xúc gần hơn với thực tế. Tâm lý học phương Tây giả định con người tìm kiếm sự thống nhất về nhận thức, có nghĩa là họ tránh xung đột lẫn nhau về thông tin. Có vẻ là có ít trường hợp này ở các nước Đông Nam Á và Đông Á. So sánh với Bắc Mỹ, Trung Quốc xem sự bất đồng gây ra ít đau đớn hơn là bị thương hoặc là thất vọng. Một ý kiến khác không làm tổn thương cái tôi của họ.

Nhà tâm lý học người Hàn Quốc Uichol Kim tin rằng tâm lý học thực hành của phương Tây không phù hợp với khu vực Đông Á.

Tâm lý học, với văn hóa Âu – Mỹ coi trọng sự chính xác, tự do và lý tưởng cá nhân, là sự phức tạp. Niềm tin này ảnh hưởng đến các hội nghị được tổ chức như thế nào, hợp tác nghiên cứu được phát triển như thế nào, nghiên cứu được tài trợ như thế nào, và các ấn phẩm được xuất bản như thế nào. Ở Đông Á, mối quan hệ của con người có thể được mô tả là “dựa trên đạo đức” hơn là “dựa trên quyền”. Cá nhân được coi là liên kết trong mạng quan hệ và ý tưởng được trao đổi thông qua mạng lưới xã hội được thiết lập.

Trong khoa học công nghệ, Chân lý phương Tây kích thích phân tích, đạo đức phương Đông dẫn tới tư duy tổng hợp. Một sinh viên Trung Quốc nói với Geert:

Sự khác biệt lớn nhất giữa xã hội Trung Quốc và phương Tây là phương Tây tôn thờ các anh hùng, Trung Quốc tôn thờ các vị thánh. Nếu một người giỏi một lĩnh vực, họ có thể trở thành anh hùng. Còn để trở thành một vị thánh, người ta phải giỏi mọi thứ.

Bảng 7.3 – Sự khác biệt chính giữa các xã hội định hướng ngắn hạn và dài hạn dựa trên dữ liệu CVS: kinh doanh và cách tư duy
Định hướng ngắn hạn Định hướng dài hạn
Những giá trị làm việc chính bao gồm quyền tự do, quyền lợi, thành tích và suy nghĩ cho chính mình Những giá trị công việc chính  bao gồm học tập, trung thực, thích nghĩ, trách nhiệm và kỷ luật tự giác
Thời gian giải trí quan trọng Thời gian giải trí không quan trọng
Tập trung vào lợi nhuận Tập trung vào vị trí thị trường
Tàm quan trọng của lợi nhuận năm nay Tầm quan trọng của lợi nhuận 10 năm tính từ bây giờ
Quản lý và người lao động thuộc hai phe tâm lý Chủ sở hữu/nhà quản lý và người lao động chia sẻ cùng một nguyện vọng
Thăng chức, khen thưởng bởi khả năng Xã hội và kinh tế khác biệt không mong muốn
Lòng trung thành cá nhân thay đổi với nhu cầu kinh doanh Đầu tư lâu dài mạng lưới cá nhân, Guanxi
Quan tâm tới sở hữu chân lý Quan tâm tới tôn trọng đạo đức
Có những nguyên tắc phổ quát về những gì là tốt và là xấu Điều gì là tốt và là xấu tùy thuộc vào hoàn cảnh
Sự bất mãn với sự đóng góp của chính mình về quan hệ hàng ngày của con người về điều chỉnh sự bất công Sự hài lòng với sự đóng của chính mình để quan hệ hàng ngày của con người về điều chỉnh sự bất công
Vật chất và tinh thần bị tách biệt Vật chất và tinh thần được tích hợp
Nếu A là đúng, B đối diện với nó phải là sai Nếu A là đúng, B đối diện với nó cũng có thể là đúng
Ưu tiên cho hợp lý trừu tượng Ưu tiên cho ý thức chung
Cần thống nhất nhận thức Bất đồng không gây hại
Tư duy phân tích Tư duy tổng hợp

Trong cách mạng công nghiệp ở phương Tây, cuộc tìm kiếm chân lý dẫn tới phát hiện ra các quy luật thiên nhiên mà sau này được khai thác cho lợi ích của tiến bộ con người. Các học giả Trung Quốc mặc dù sống trong thời văn minh cao, chưa từng phát hiện ra định luật Newton. Đơn giản là họ không tìm kiếm các định luật. Các văn tự của Trung Quốc lại thiếu sự khái quát. Nó cần tới hơn 3000 kí tự khác nhau cho mỗi âm tiết, trong khi bằng cách chia tách âm tiết thành những chữ cái riêng biệt, ngôn ngữ phương Tây chỉ cần có hơn 30 kí tự. Tư duy phân tích của phương Tây tập trung vào chi tiết. Tư duy tổng hợp của phương Đông tập trung vào tổng thể. Một người đoạt giải Nobel vật lý người Nhật đã nói: “Trí óc của người Nhật không phù hợp cho việc tư duy trừu tượng”.

Đến giữa thế kỷ XX, mối quan tâm của phương Tây tới chân lý không còn là tài sản mà thay vì đó, nó trở thành trách nhiệm sở hữu. Khoa học có thể được lợi từ tư duy phân tích nhưng quản lý và cai quản lại dựa trên nghệ thuật tổng hợp. Với các kết quả của phương Tây, khoa học công nghệ được thừa hưởng sẵn có, văn hóa phương Đông có thể sử dụng khả năng tổng hợp vượt trội của mình để đưa các công nghệ vào thực tế. Đúng hay sai không quan trọng bằng làm gì và làm thế nào để sự nỗ lực của cá nhân với cách tư duy khác nhau có thể kết hợp lại vì mục đích chung. Phương pháp quản lý của người Nhật, đặc biệt là với công nhân người Nhật, rất nổi tiếng với sự tổng hợp thực tế.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s