Zhao Jianming

NỘI DUNG

Bài viết cho rằng từ khi Mao Trạch Đông qua đời, ở Trung Quốc Đại lục đã diễn ra 4 cuộc vận động thị uy quần chúng với quy mô lớn. Ngoài “sự kiện Thiên An Môn” năm 1976, 3 lần khác đều có khuynh hướng dân chủ và mỗi lần đều có bối cảnh là những mâu thuẫn chính trị – xã hội nhất định. Hoạt động thị uy ở Trung Quốc Đại lục có liên quan tới việc phân phối quyền lực phe phái trong nội bộ, có thể được gọi là một thứ “chống đối phe phái. Tất cả các cuộc thị uy về cơ bản đều không phải là chống đối thể chế cộng sản, nhưng thường giới lãnh đạo Trung Quốc định tính nó là “phản cách mạng”, bởi vậy cũng có thể được gọi là “chống đối chính trị kiểu chuẩn lật đổ”. Vì phong trào thị uy ở Trung Quốc Đại lục thường là “chống đối có tính phe phái” nên làm cho tần số “chống đối các chính sách cá biệt” tăng lên.

Đối với thể chế đảng quốc kiểu Lenin, một đảng có kết cấu tổ chức mạnh mẽ và nắm hệ tư tưởng giáo hóa tư duy của nhân dân thì rõ ràng là hạt nhân của sự vận hành chính trị. Học giả Samuel P. Huntington gọi sự thách đố lớn nhất đối với quá trình dân chủ hóa chính quyền loại hình này là vấn đề chế độ hóa. Nói cụ thể, là vấn đề tách biệt giữa đảng và chính quyền và vấn đề hình thái ý thức. Học giả Đại lục Ruan Ming (Nguyễn Minh), người đã từng tham gia thực tế vào sự vận hành nền chính trị Trung Cộng, hiện đang lưu vong tại Mỹ, với kinh nghiệm mấy mươi năm của mình, khi tổng kết sự phát triển chính trị của Trung Quốc Đại lục ở thế kỷ 20 và suy nghĩ về vấn đề tại sao dân chủ chưa thể đột phá nền chuyên chế, đã rút ra rằng “bài học quan trọng nhất là cần chấm dứt hệ thống” một đảng, một lãnh tụ, một chủ nghĩa”, xây dựng chế độ dân chủ hiện đại có cơ sở nhân quyền phổ biến”. Sự hưng vong của các chính quyền cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu càng chứng minh địa vị then chốt của đảng và hệ tư tưởng trong quá trình chuyển hóa chính quyền kiểu Lenin.

Còn nhân tố nào làm cho đảng cộng sản và hệ tư tưởng mà nó dương lên có sự biến đổi thì tùy theo lĩnh vực tri thức và giác độ phán đoán của mỗi người cùng với lý luận được viện dẫn khác nhau mà có sự khác nhau. Điều trước tiên được nghĩ đến không có gì khác là: tính hợp pháp của chính quyền cộng sản dần mất đi (delegitimatize), cải cách kinh tế áp dụng cơ chế thị trường, ít chú ý tới các vấn đề liên quan tới xung đột phe phái trong nội bộ Đảng Cộng sản chuyên chính và dân chủ hóa chính trị. Trong thực tế, ngay từ năm 1956 Hannah Arendt đã quan sát sâu vào thứ quan hệ nhân quả này: “Một vấn đề có tính kết cấu đặt ra trước các nước có chính quyền kiểu Lenin là khủng hoảng trong việc kế thừa quyền lực, nó sẽ gây ra đấu tranh phe cánh, và thứ lực lượng này sẽ dẫn tới một cuộc tranh giành giựt lòng người”. Nhưng điều mà Arendt nhấn mạnh thực ra chỉ là vấn đề thay thế quyền lực của chính quyền cộng sản mà về sau mọi người đều biết, hoàn toàn không tương đường với sự xung đột phe phái thường xuyên của những chính quyền này, vì lúc này dù là giới khoa học hay giới chính trị đều nhất trí vũ đoán rằng chính quyền kiểu Lenin, với sự khống chế nghiêm mật của nó, rất ít năng lượng biến đổi. Hơn 30 năm sau, khi nghiên cứu vấn đề chuyển hóa thể chế quyền uy (authoritarian states) từ giữa những năm 70 trở đi, Lucian W. Pye cho rằng động lực của sự chuyển hình này là ở sự xung đột giữa giới tinh hoa và sự nghi ngờ của tầng lớp tinh hoa thống trị đối với tính hợp pháp của chính quyền. Phát hiện này rất có ý nghĩa, một mặt nó khẳng định tầm quan trọng của xung đột phe phái đối với việc di chuyển quyền lực, mở rộng cách giải thích chủ lưu trước đó của giới học thuật về vấn đề này và về lý luận hiện đại hóa, mặt khác cũng đưa việc nghiên cứu cộng sản vào phạm trù chính trị so sánh nói chung, phá vỡ thiên kiến học thuật cho rằng việc nghiên cứu cộng sản là có tính đặc thù. Bài này nhằm vào mấy hoạt động kháng nghị quy mô lớn xảy ra ở Trung Quốc Đại lục trong những năm 80, giải thích xung đột giữa phái cải cách và phái bảo thủ của Trung Cộng trong lĩnh vực quyền lực chính trị trong chính quyền Trung Cộng.

I/ Sự biến đổi về chính trị của chính quyền kiểu Lenin

Quan điểm của giới khoa học về khả năng chính quyền kiểu Lenin phát sinh biến đổi về chính trị (political change), đặc biệt là dân chủ hóa về chính trị, bản thân nó cũng trải qua những biển đổi.

Việc nghiên cứu cộng sản thời kỳ đầu chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cực quyền (totalitarianism), nhấn mạnh sự khống chế toàn diện của chính quyền này đối với nhân dân, cho rằng sự tiến triển của khoa học – kỹ thuật và sự phức tạp ngày càng tăng của điều kiện kinh tế – xã hội, đều không đủ để tạo thành sự gia tăng tính tự chủ về chính trị của các tổ chức có tính chức năng trong nhà nước cộng sản và của các lực lượng xã hội, bởi vậy ở các nhà nước này không hề có khả năng phát triển dân chủ. Nói cách khác, cái mà các nhà nước này đại biểu là nền dân chủ XHCN mà về lý tưởng là hoàn toàn khác. Trái với một số ít ngoại lệ phủ nhận chính quyền kiểu Lenin có tiềm năng dân chủ, dường như Arendt, khi hình dung sự khủng hoảng về kế thừa quyền lực cộng sản, đã cho rằng các phe phái khác nhau, khi cạnh tranh sự ủng hộ của dân chúng nói chung, có khả năng dẫn đến dân chủ. Nhưng với điều kiện thời gian và không gian của những năm 50 thì chủ trương này tỏ ra là yếu đuối vô lực.

Nhưng dù cho chính phủ trung ương khống chế nghiêm ngặt về chính trị và xã hội thì sau khi Stalin qua đời phương thức thống trị chính quyền kiểu Lenin theo lối kế hoạch cao độ về kinh tế đã dần có hiện tượng buông lỏng, thứ hiện tượng buông lỏng này bắt nguồn từ sự nghi ngờ của người kế thừa Stalin đối với phương thức thống trị trong thời kỳ Stalin còn tại vị, tức là triển khai sau khi cái gọi là tính hợp pháp của sự thống trị cộng sản bị thách thức. Thứ đa nguyên hóa dần triển khai do tác động của sự di chuyển quyền lực (power transition) này biểu hiện đặc biệt rõ từ những năm 60 về sau, làm rộ lên phương pháp nghiên cứu nhóm lợi ích trong nghiên cứu của giới khoa học về cộng sản. Nhưng do chính quyền kiểu Lenin khác với bản chất của chính quyền phương Tây, khi vận dụng phương pháp nghiên cứu này không tránh khỏi có một số hạn chế, do vậy gọi nó là lý luận nhóm (group theory) thì có lẽ càng thích hợp hơn. Mối tương quan thuận giữa sự di chuyển quyền lực của chính quyền cộng sản và sự biến đổi chính trị dường như có thể thích hợp với cả các loại hiện tượng chính trị phát sinh vào thời kỳ Khruschev hay Breznhev của Liên Xô cũng như với thời kỳ Mao Trạch Đông từ trần đến cuối đời Đặng Tiểu Bình ở Trung Quốc.

Do công nghiệp hóa tạo ra cho những xã hội khác nhau của loài người những căn bệnh giống nhau nào đó và do các xã hội Đông Âu thích ứng với nền thống trị cộng sản không tốt, nên từ sau những năm 60 đã xuất hiện thuyết hội tụ (convergence theory), cho rằng hiệu suất mà xã hội công nghiệp nhấn mạnh tất nhiên sẽ thay thế cho lực lượng cưỡng chế bao hàm trong nền chính trị kiểu hiệp thương cộng sản, do đó hiện tượng đối trọng và bất đồng ý kiến của các xã hội Đông Âu đói với chính quyền cộng sản tất sẽ dần thiết chế hóa, làm cho hai thứ chính trị ở Đông Âu về bản chất sẽ xuất hiện khuynh hướng đồng nhất. Sự phát triển với tốc độ nhanh của xã hội công nghiệp là bất tương dung với thể chế kế hoạch tập trung cao độ quyền lực, nó cũng sẽ buộc chính quyền cộng sản cải cách theo hướng phân quyền.

Cùng với việc cải cách kinh tế và khuynh hướng thị trường hóa ở Đông Âu ngày càng mở rộng và sâu thêm, lý luận hiện đại hóa (modernization theory) không tránh khỏi ba động vào lĩnh vực nghiên cứu cộng sản. Ví như khi nghiên cứu cơ chế vận hành của ngành quyết sách của Trung Cộng, Michel Oksenberg và Kenneth Liberthal cho rằng quá trình chế định chính sách tập trung cao độ quyền lực vốn đã có khuynh hướng phân tán và phân hóa rõ rệt, các đơn vị cấp dưới bắt đầu theo đuổi lợi ích riêng, quyền uy quyết sách ngày càng tương đối hạn chế, cần hiệp thương với đơn vị cấp dưới để tìm sự nhất trí, làm cho việc chế định chính sách ngày càng phức tạp. Nghiên cứu của Comie Meany và Jean Oi về cải cách ở thành phố và nông thôn Trung Quốc Đại lục đã phát hiện ra rằng tình trạng hai loại thị trường và thể chế hai giá cùng tồn tại đã làm cho quyền lực của cán bộ địa phương tăng lên rất nhiều so với trước. Từ trước phong trào dân chủ 1989, nhiều phần tử trí thức đã ý thức được rằng muốn làm cho Trung Quốc Đại lục đi tới dân chủ hóa, vấn đề then chốt là phải xã hội hóa kinh tế, tức là giảm sự khống chế của nhà nước đối với kinh tế và thông qua thị trường để phát triển các nhà doanh nghiệp và giai đoạn (tầng lớp? – ND) trung lưu độc lập thì mới có thể củng cố được cơ sở dân chủ. Cuối những năm 80, khi thảo luận về vấn đề Trung Quốc Đại lục nên chuyển hóa như thế nào từ xã hội cực quyền sang nền dân chủ, dù ở những người theo chủ nghĩa quyền uy mới chủ trương thông qua việc mở rộng tự do kinh tế của cá nhân thúc đẩy xã hội cực quyền chuyển hóa lên xã hội công dân, hay ở những người theo chủ nghĩa phiếm văn hóa nhấn mạnh thông qua việc truyền bá các giá trị tự do dân chủ để mong những người bị trị tự giải phóng khỏi nền chính trị chuyên chế truyền thống và hệ tư tưởng cộng sản, đều có thể thấy thấp thoáng bóng dáng của lý luận hiện đại hóa.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như Diệm

Nguồn: TĐB – 96 – 15, 16 & 17

Zhao Jianming (Triệu Kiến Minh) là giáo sư, Viện nghiên cứu KHXH & NV Trung Sơn, Đại học Chính trị Quốc gia, Đài Bắc.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s