Người cho vay quốc tế cuối cùng và cải cách IMF

Micheal Aglietta

Đại học Paris X và CEPII

Liệu IMF giữ vai trò người cho vay cuối cùng có phải là thỏa đáng ? Những người thương thảo Hiệp ước Bretton Woods vốn đã từng xác định các nhiệm vụ của Quỹ Tiền tệ quốc tế hẳn sẽ cảm thấy câu hỏi này là kỳ cục. Tuy nhiên, đó là một vấn đề đã được đặt ra sau cuộc khủng hoảng Mexico năm 1995 và nhất là sau cuộc khủng hoảng châu Á năm 1998.

Trong một nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã chỉ ra rằng IMF phải thích ứng với những biến đổi quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ. Ít ra cũng có bốn mô hình hành động tập thể có thể được chỉ ra : hợp tác xã tín dụng trong việc trợ giúp tương hỗ của các nước gặp phải vấn đề liên quan đến cán cân vãng lai ; phát hành đồng SDR (quyết rút vốn đặc biệt), một mầm mống bất thành của đồng tiền toàn cầu ; trung gian tài chính  cho sự phát triển dành cho các nước bị gạt ra ngoài thị trường vốn quốc tế ; cơ quan xử lý các cuộc khủng hoảng tài chính tại các nước mở cửa thị trường vốn. Thay vì nối tiếp nhau thì các mô hình này lại chồng chéo lên nhau. Điều đó tạo nên tình hình hết sức rối rắm, vì các hình thức tài trợ, điều kiện thụ hưởng và các kỹ thuật kiểm soát giữa các mô hình là rất khác nhau. Bộ máy đó huy động quá nhiều nguồn lực của IMF hiện đang bị cuốn vào tất cả các vấn đề chính sách kinh tế của các quốc gia cầu viện đến IMF. Điều đó đã gây ra những cuộc tranh cãi và những luồng ý kiến phản đối, bởi lẽ mối quan tâm của những nước đóng tiền và những nước thụ hưởng khác xa với tinh thần của quỹ bảo hiểm tương hỗ.

Quá trình toàn cầu hóa về mặt tài chính đã làm gia tăng các cuộc khủng hoảng ở mức đòi hỏi IMF phải can thiệp khẩn cấp. Tuy nhiên, IMF không hề được chuẩn bị cho tình thế này, bởi lẽ kinh nghiệm đúc kết từ các mô hình hoạt động của IMF (thâm hụt cán cân vãng lãi hay tài trợ dài hạn cho các nước vay nợ) không liên quan mấy đến bản chất của các cuộc bùng phát từ giữa những năm 1990.

Những ý tưởng manh nha đòi tập trung hoạt động của IMF vào những nhiệm vụ giám sát kinh tế vĩ mô và giải quyết các cuộc khủng hoảng tài chính đã được đặc biệt lưu ý trong chính giới Hoa Kỳ. Thấy được sự khống chế rõ nét của Kho bạc Hoa Kỳ đối với IMF từ hơn nửa thế kỷ qua, những ý kiến chỉ trích các chương trình tài chính với số tiền ngày càng tăng cao cần được xem xét nghiêm túc. Chính vì vậy, việc giao nhiệm vụ chỉ đạo công tác xử lý các cuộc khủng hoảng cần được hậu thuẫn bởi một học thuyết nhất quán. Bởi lẽ chức năng người cho vay cuối cùng là trụ cột của công tác xử lý khủng hoảng và việc triển khai mô hình này trên phạm vi quốc tế còn gây nhiều tranh cãi, nên việc soạn thảo học thuyết là một nhiệm vụ không thể thoái thác.

Để góp phần vào hướng nghiên cứu này, chúng tôi dự định trình bày theo ba phần. Trong phần thứ nhất, chúng tôi chỉ ra tại sao tính bấp bênh tài chính lại phải đặt ra vấn đề hành động tập thể. Trong phần thứ hai, chúng tôi sẽ mô tả những định chế có thể làm người cho vay quốc tế cuối cùng và chúng ta sẽ thấy rằng nếu IMF phải đảm nhận vai trò này thì nó cũng chỉ là một trong những người cho vay quốc tế cuối cùng.

1/ Tính bấp bênh tài chính và vấn đề hành động tập thể

Do rất nhiều cuộc khủng hoảng nổ ra tại các nước vay nợ bằng ngoại tệ và điều đó kéo theo những hậu quả thuần túy mang tính quốc tế, nên nhiều khi mọi người có xu hướng lẫn lộn giữa khủng hoảng tài chính và khủng hoảng cán cân thanh toán. Sự lẫn lộn này cũng không phải là không có lý. Bởi lẽ các cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán liên quan đến mô hình phôi thai trong hoạt động của IMF. Đó chính là mô hình bảo hiểm hỗ tương. Những cuộc khủng hoảng như vậy nếu không loại bỏ được thì ít ra cũng trở nên hiếm hơn và ít tồn tại hơn nếu có được sự quản lý kinh tế vĩ mô tốt, và vấn đề này thì hiện đã có được sự đồng thuận. Cần phải chọn lựa một chế độ ngoại hối đủ linh hoạt để có thể chịu đựng được các chấn động và tiến hành một chính sách tiền tệ thận trọng bắt buộc được định hướng bằng mục tiêu lạm phát. IMF là người phải tư vấn các chính sách tốt và cải thiện các công cụ giám sát của mìn để phát hiện những mất cân đối kinh tế vĩ mô và cảnh báo các chính phủ khá sớm. Hoạt động của IMF do đó có thể thu hẹp vào các nguyên tắc mà mọi người đều cho là chính đáng. Đương nhiên là những cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán như vậy, chẳng hạn do nguyên nhân là nợ chính phủ, vẫn có thể tồn tại. Nhưng đó sẽ không phải là những cuộc khủng hoảng tài chính theo đúng nghĩa.

Các cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra tại các nước phát triển cũng như tại các nước đang phát triển vì những lý do không liên quan gì đến chế độ ngoại hối hay lạm phát. Đó là những lý do nội sinh của một nền tài chính tự do hóa. Nó có những nguồn gốc kinh tế vi mô, đã tồn tại trong lịch sử tài chính từ hàng thế kỷ nay và trở nên dữ dội hơn cùng với quá trình tự do hóa tài chính. Những lý do đó được gói gọn vào trong một khái niệm khá mông lung nhưng đã được khẳng định từ kinh nghiệm lặp lại nhiều lần trong suốt một thời gian dài. Đó là khái niệm tính bấp bênh của tài chính.

Tuy nhiên, trên phương diện lý thuyết, khái niệm này có thể được cụ thể hóa trên cơ sở nhận xét được rằng tính bấp bênh gắn liền với các phương thức phối kết hợp các quyết định tư nhân về tài chính. Chính những khiếm khuyết về phối kết hợp trên các thị trường là nền ảng của tính bấp bênh tài chính. Thực tế dễ nhận thấy rằng tài chính là việc buôn bán những lời hứa. Thái độ ở đây phụ thuộc vào mức độ tin tưởng làm cơ sở để đưa ra các dự báo. Tuy nhiên, như mô hình bong bóng của « nền kinh tế mới » gần đây đã minh chứng, mức độ tin tưởng ban đầu là bất định. Nó không xuất phát từ tiền đề về sự lựa chọn hợp lý. Nó cũng không hề bị khống chế bởi những yếu tố « cơ bắp » hiện có, có nghĩa là các kỹ thuật đã được biết đến, thị hiếu hiện tại, khối lượng kiến thức, nguồn vật lực và nhân lực hiện có thể khai thác. Mức độ tin tưởng vốn được biểu hiện trên thị trường tài chính thông qua sự dự đoán các giá trị tương lai xuất phát từ sự tương tác mang tính chiến lược giữa  những phỏng đoán cá nhân rất khác nhau về tương lai. Mức độ tin tưởng chính là hình ảnh xã hội mà thị trường tài chính sản sinh ra. Những hình ảnh đó chịu ảnh hưởng lớn của sự ưa chuộng tập thể và dễ bị đổ vỡ một cách bất ngờ. Nếu ta gọi lòng tin là sự phối kết hợp tập thể các mức độ tin tưởng, thì một nền kinh tế trong đó thị trường tài chính quyết định sự hình thành mức độ tin tưởng sẽ chịu ảnh hưởng của những biến động về lòng tin.

Những biến động này bám theo chu kỳ kinh tế khi tài chính giữ vai trò nổi trội trong việc tích lũy tư bản thông qua sự tương tác giữa tín dụng và sự biến động được dự báo về giá của các tài sản. Sự vận động này tạo ra mối liên hệ giữa những khiếm khuyết về phối kết hợp kinh tế vi mô trên thị trường tài chính với những biến động mang tính chu kỳ của lòng tin. Chu kỳ ở đây như yếu tố ngoại sinh tạo ra tình trạng bấp bênh trong giai đoạn tăng trưởng tín dụng và tăng giá tài sản có, bởi lẽ tiến trình tài trợ bằng hiệu ứng đòn bẩy về kỳ vọng tăng giá tài sản có tính chất tự tăng. Tiến trình này không có cơ chế tự cân bằng do hai đặc tính cơ bản của những khiếm khuyết phối kết hợp : hiện tượng thông tin không cân xứng và tính bổ khuyết chiến lược.

Hiện tượng thông tin không cân xứng liên quan đến mối quan hệ giữa các đối trọng của tín dụng. Nó chuyển rủi ro của những người mua bất động sản, của cổ đông và lãnh đạo doanh nghiệp sang các chủ nợ. Nó biến giá trị chứng khoán thành một quyền chọn thực tế và giá trị hiện tại của các luồng tiền dự kiến. Đòn bẩy càng tăng, thì khả năng đổ vỡ càng cao, tính bấp bênh của các dòng tiền trong tương lai càng lớn, giá trị chứng khoán càng tăng. Tính bấp bênh tài chính vì vậy được che giấu bởi sự tăng giá thị trường của các doanh nghiệp trong giai đoạn thịnh vượng được tài trợ bằng tín dụng. Trong giai đoạn này, giá chứng khoán tăng lên do ngày càng thiếu thông tin về các dự án đầu tư. Vì vậy, nó có tính chất như hiện tượng bong bóng đầu cơ đó với giá trị trung bình của các dòng tiền dự kiến. Đối trọng theo quan điểm của các chủ nợ là việc đánh giá thấp rủi ro. Bởi lẽ tỷ lệ nợ tính theo giá thị trường của vốn tự có giảm cho dù khả năng đổ vỡ của doanh nghiệp tăng lên với hiệu ứng đòn bẩy, nên rủi ro được đánh giá thấp hơn thực tế. Khi mà tính bấp bênh tài chính được bộ lộ, có nghĩa là lúc khủng hoảng nổ ra, là một thời điểm không thể dự báo trước được, bởi lẽ nó phụ thuộc vào thời điểm bong bóng đầu cơ nổ tung, mà thời điểm này mãi mãi là một ẩn số. So với tiến trình tổng quát trên, việc vay nợ bằng ngoại tệ kéo theo mức độ bất trắc cao hơn về số tiền mà hiệu ứng đòn bẩy tạo ra, và như vậy là cả về khả năng đổ vỡ. Chính vì vậy, việc sử dụng ồ ạt các nguồn vốn đầu cơ và (hoặc) các nguồn tín dụng nước ngoài tạo nên những hiện tượng bong bóng đầu cơ khủng khiếp hơn nhiều so với những gì diễn ra trên các thị trường tài chính lớn của phương Tây. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính trên các thị trường đó vẫn mang cùng một bản chất.

(còn tiếp) 

Nguồn: Hội đồng phân tích kinh tế – Khủng hoảng nợ, phòng ngừa và giải pháp – NXB CTQG 2005

Daniel Cohen từ Đại học Sư phạm, CEPREMAP và CEPR (Pháp), Richard Portes từ London Business School, EHESS và CEPR.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s