Sự tan rã của chính quyền cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô làm cho giới khoa học phản tư nhiều. Trước làn sóng dân chủ hóa trào dâng mạnh mẽ như vậy, giới khoa học hoàn toàn không có sự chuẩn bị về lý luận. Tuy nói chug người ta cho rằng tình hình trung Cộng và tình hình các nước Liên Xô, Đông Âu, bất luận về truyền thống chính trị, tính hợp pháp của cách mạng cộng sản, hay bối cảnh quốc tế và tình hình phát triển đều không giống nhau, nhưng làn sóng ở Liên Xô, Đông và sự phát triển hiện thực của Đại lục đã làm thay đổi ở mức độ tương đối lớn các nhìn nhận của giới khoa học về vấn đề: phải chăng Đại lục có thể có những biến đổi về chất. Mô hình mới này dường như càng nhấn mạnh việc phân tích từ giác độ vĩ mô, nội dung cũng rộng rãi hơn, bao trùm các mặt, các cấp độ, có thể gọi là cách tiếp cận tổng thể (a comprehensive approach).

Trước hết, được kích thích bởi sự thảo luận sôi nổi ở bên trong về khái niệm xã hội công dân (civil society) ngay vừa khi chế động sản Đông Âu tan ra, bất luận ở Đại lục hay hải ngoại, việc nghiên cứu của giới khoa học trong những năm 90 về một nước lớn – Trung Cộng – nơi du nhất chính quyền kiểu Lenin còn tồn tại dường như đều gắn khả năng phát sinh những biến đổi trọng đại trong tương lai với lý tưởng xã hội công dân, thậm chí cho rằng xây dựng lại xã hội công dân là chiến lược tốt nhất để giành dân chủ, để “mở ra lối chuyển biến từ xã hội nhất nguyên hóa dưới sự thống trị của đảng cộng sản sang xã hội đa nguyên hóa. Một khi kết cấu xã hội đa văn hóa như vậy hình thành thì cơ sở xã hội của sự thống trị cực quyền của đảng cộng sản sẽ bị phá vỡ”.

Thứ hai, mô hình phát triển của Đông Á (đặc biệt là 4 con rồng nhỏ châu Á) lấy lý luận hiện đại hóa làm cơ sở, có ảnh hưởng khá sâu xa đối với giới trí thức cũng như giới chính trị của Trung Quốc Đại lục. Những người theo chủ nghĩa quyền uy mới chủ trương phát triển kinh tế bằng chủ nghĩa chuyên chế mới để dọn đường cho việc dân chủ hóa chính trị về sau, điều đó cố nhiên ít nhiều có bóng dáng của lý luận hiện đại hóa. Hiện thực phát triển của Trung Quốc Đại lục hiện nay, như việc thít chặt khống chế xã hội, tránh bàn đến cải cách thể chế chính trị, chống lại ảnh hưởng của các lực lượng phương Tây từ năm 1990 trở lại đây, đều tăng cường thêm một bước vai trò của lý luận hiện đại hóa trong nghiên cứu Trung Cộng. Việc cải cách kinh tế bắt đầu bằng phân quyền và không ngừng trao quyền lực cho cấp dưới cố nhiên đã làm sống động sự phát triển đa nguyên của kinh tế địa phương, nhưng cũng làm cho mối quan hệ truyền thống giữa trung ương và địa phương của Trung Cộng bị thách thức. Hướng đi trong tương lai của mối quan hệ mới giữa trung ương và địa phương sẽ như thế nào? Có dẫn đến kinh tế chư hầu không? Hay thậm chí có vạch đất cát cứ sau khi Đặng Tiểu Bình qua đời không? Đó đều là những tiêu điểm nghiên cứu mới.

Thứ ba, trong việc nghiên cứu về hoạt động cộng đồng có tính địa phương và tính tự trị ở cấp vi mô và việc dân chủ hóa ở cơ sở, một mặt do khuynh hướng đa nguyên hóa các nơi ở Đại lục ngày càng lộ rõ (như sự xuất hiện hàng loạt cộng đồng tự tri phi quan phương ở thành phố và nông thôn), mặt khác lại do chính quyền Trung cộng, để bổ sung vào chỗ chức năng kết cấu chính trị cơ sở (đảng và chính phủ) ngày càng yếu đi, đã thôi thúc đẩy mạnh chế độ tự trị thôn, làm cho hứng thú nghiên cứu của giới học thuật đối với các động phi quan phương ở Trung Quốc Đại lục tăng lên mạnh so với trước kia.

II/ Sự chống đối chính trị đối với chính quyền kiểu Lenin

Qua sự phân tích trên đây ta thấy rõ, trong việc nghiên cứu chính quyền thuộc loại hình Trung Cộng, giới khoa học đã thừa nhận trong đó có những nhân tố “biến”, thậm chí bao hàm khái niệm “chống đối chính trị”. Khi nghiên cứu sự tác động qua lại giữa giới trí thức Trung Quốc Đại lục và sự phát triển chính trị trong những năm 80, Merle Goldman cho rằng từ cuối năm 1988, phái dân chủ ở Trung Quốc Đại lục đã bắt đầu tổ chức lực lượng chống đối bên ngoài thể chế, công khai thách thức sự lãnh đạo của Đảng, có thể gọi là “lực lượng chống đối có tổ chức” (Organized opposition). Nhưng sự “chống đối chính trị” mà nói chung người ta nói, đúng ra phải chỉ các lực lượng chống đối chính trị đã được thiết chế hóa, được chính phủ thừa nhận, hợp pháp. Nhưng dùng phương thức nghiêm ngặt này để giới định phe chống đối trong chính quyền cộng sản thì nhất định sẽ gặp phải một số khó khăn. Bởi vì tuy sự chống đối chính trị có trong bất kỳ hình thức chính quyền nào, nhưng về khái niệm chống đối trong chính quyền kiểu Lenin, về mặt vận hành, định nghĩa cần tương đối lỏng lẻo, nó là một “quá trình tạm thời của sự phản đối trung thực” (a tentative process of legal dissent), khác với sự phản đối trung thành bên trong thể chế theo quy định của bộ khung chính trị lập hiến, đó là thái độ hay hành động có phối hợp điều hòa của một đoàn thể cá biệt (anomic) hay là có tổ chức, bất luận trong tình hình nào, áp dụng bất kỳ thái độ hay hành vi chống đối này chỉ có thể gọi là “chuẩn chống đối” (semiopposition), những người tham gia có thể gồm “một nhóm người không ở địa vị chủ yếu trong tập đoàn thống trị hay căn bản không đại biểu cho nhóm tham gia thống trị, họ mong muốn tham chính, nhưng lại không muốn đoạn tuyệt với chính quyền này”, hay là “một tổ chức lỏng lẻo chống đối chính phủ, giữa các thành viên có lúc cũng biết nhau, thảng hoặc biểu đạt ý kiến của bản thân họ”. Những hành vi chống đối chính trị được giới định tương đối lỏng lẻo đối với chính quyền kiểu Lenin nói trên đều phát sinh cuối những năm 1960. Hoạt động phản đối trên quy mô tương đối lớn khác với trước kia vừa xuất hiện ở Liên Xô, đòi thực hiện cải cách tương đối mạnh mẽ đối với tư tưởng và hiện thực chính trị, thí du như Cương lĩnh của Phong trào Dân chủ Liên Xô (Program of the Demoratie Movement of the Soviet Union) do tổ chức Nhân sĩ Dân chủ Nga, Ukraine và vùng biển Polo công bố năm 1969, đượ các giới bên ngoài chú ý rộng rãi. Đến những năm 80, nhiều nước cộng sản Đông Âu đã có các tổ chức chống đối tổ chức nghiêm ngặt, thanh thế rộng lớn, như Công đoàn Đoàn kết (the Solidarity) ở Ba Lan, nhưng phương thức chống đối và bản chất không khác nhau, vẫn khác biệt với sự phản đối trung thành bên trong thể chế ở các nước phương Tây.

Frederick C. Barghoorn chia các lực lượng chống đối bên trong Liên Xô cuối những năm 60 thành chống đối phe phái (fectional opposition), chống đối ngành (sectoral opposition) và chống đối kiểu lật đổ (subversive opposition). H. Gordon Skilling, sau khi phân tích tình hình Đông Âu cùng thời kỳ, đã bổ sung thêm khoản chống đối chính sách cá biệt (specific opposition).

Chống đối phe phái là nỗ lực mà các thành viên ngành quyết sách tối cao của đảng hay chính phủ thực hiện hòng thay đổi nhân sự hay chính sách bên trong thể chế. Trong nhiều tình huống, sự chống đối theo phương thức này là thuộc về chống đối trung thành bên trong thể chế. Skilling gọi loại chống đối ngành là chống đối cơ bản (fundamental opposition), chỉ việc mỗi ngành cụ thể, chẳng hạn đảng bộ, ngành quan chức chính phủ, cảnh sát, nhà văn, luật sư, nhà kinh tế học…, vì lợi ích của đoàn thể hay ngành mình, đòi hỏi một mức độ tự do nào đó. Những người này có thể đồng tình cũng có thể phản đối chính sách của hệ thống quyết sách của đảng hay chính phủ. Sự chống đối này thường là trong thể chế, có thể xuất phát từ tổ chức chính thức, cũng có thể hoạt động dưới danh nghĩa phi chính thức, không liên quan đến cá nhân người lãnh đạo cao nhất hay các vấn đề thể chế. Nhưng nếu biểu hiện dưới hình thức quyết liệt, nó cũng có thể biến thành chống đối kiểu lật đổ chống lại thể chế. Phương thức chống đối này cũng bao gồm sự bất mãn của dân tộc (chủng tộc) ở địa vị thứ yếu đối với dân tộc thống trị.

Chống đối kiểu lật đổ là thuộc loại chống đối bên ngoài thể chế, chủ trương dùng phương thức công khai hay bí mật, bao gồm các phương thức bạo động, cách mạng, thị uy, hoạt động bí mật, di dân chính trị… để biểu thị sự bất mãn đối với thể chế, ý muốn thay đổi nó một cách quyết liệt hay thậm chí phế bỏ nó đi. Ở các nước cộng sản, thứ hành vi chống thể chế này thường do các lực lượng chống cộng phát động.

Sự chống đối các chính sách cá biệt là sự chống đối không đụng chạm đến người lãnh đạo, thể chế hoặc đường lối chung, do đó thuộc về bất đồng ý kiến trong thể chế, thường do bản thân đảng cộng sản, thông qua các tổ chức trong đảng hay bên ngoài đảng, nêu ra.

Lý luận nêu trên về sự xuất hiện các lực lượng chống đối trong chính quyền kiểu Lenin gặp phải hai vấn đề: Thứ nhất, căn cứ vào lý luận nêu trên thì nguồn gốc của lực lượng chống đối là ở sự đối kháng ở cấp trung ương hay là giữa xã hội công dân và nhà nước, còn sự đối kháng theo chiều dọc bên trong đảng hay chính phủ, ví như mâu thuẫn giữa trung ương và địa phương, thì rất ít được đề cập. Thứ hai, về nguyên nhân làm cho những lực lượng chống đối này xuất hiện thì sự giải thích trong thời gian giữa những năm 60 và 70 dường như tập trung quá nhiều vào vấn đề chuyển dịch chính trị đối với sự thống trị cao áp… Trong những năm 90 “hậu cộng sản chủ nghĩa”, nhìn lại cách giải thích đơn diện đơn hướng này, thấy nó không tránh khỏi rơi vào chỗ giản hóa. Sự thất bại của phương thức thống trị của đảng cộng sản – tham nhũng nghiêm trọng, tập đoàn thống trị không ăn nhập với hiện thực, chủ nghĩa quan liêu quá trầm trọng… dường như là những nhân tố quan trọng. Những để tiện phân tích, “sự chống đối chính trị” mà bài này bàn đến sẽ tập trung vào sự phân hợp của thứ chính trị phe phái bên trong bộ máy quan liêu Trung Cộng những năm 80 và nhân tố hệ tư tưởng. Việc nghiên cứu sự chống đối có tính lật đổ trong nội bộ Đại lục sẽ đẩy về trước tới “sự kiện Thiên An Môn 5 – 4” nổ ra năm 1976.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như Diệm

Nguồn: TĐB – 96 – 15, 16 & 17

Zhao Jianming (Triệu Kiến Minh) là giáo sư, Viện nghiên cứu KHXH & NV Trung Sơn, Đại học Chính trị Quốc gia, Đài Bắc.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s