Những cải tiến về mặt tổ chức. Mặc dù cả hai đảng lớn đều có các ủy ban đảng toàn quốc từ trước cuộc Nội chiến, nhưng chỉ đến thập niên 1970 các tổ chức toàn quốc này mới đóng vai trò quan trọng trong nền chính trị đảng phái. Những người Dân chủ bắt đầu áp dụng một cấu trúc đảng trên toàn quốc khi rất nhiều ủy ban cải cách sau năm 1968, hoạt động bên ngoài các trụ sở toàn quốc, áp đặt những quy định đối với các tổ chức đảng ở bang và địa phương. Nhưng những người Cộng hòa đã vượt lên trong công cuộc này kể từ đó.

Giống như mọi khi, chính “những người bên ngoài” đã tiến hành sự cải tổ lớn. Vụ bê bối Watergate và đợt suy thoái kinh tế trong nhiệm kỳ thứ hai của Nixon đã hủy hoại Đàng cộng hòa trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1974 và góp phần đánh bại Gerald Ford vào năm 1976. Các nhà lãnh đạo đảng gòm William Brock – Chủ tịch Ủy ban toàn quốc của đảng, Guy Vander Jagt – Chủ tịch Ủy ban vận động tranh cử vào Hạ viện, và Robert Packwood – Chủ tịch Ủy ban vận động tranh cử vào Thượng viện – đã quyết tâm xây dựng tổ chức của họ trở thành người hậu thuẫn vững chắc cho các ứng cử viên Cộng hòa. Điều đầu tiên họ làm là gây quỹ – gây quỹ rất nhiều. Họ hoàn thiện kỹ thuật mới của việc vận động gây quỹ thông qua thư điện tử trực tiếp, liệt kê danh sách những người sẵn sàng gửi các tờ séc có mệnh giá khiêm tốn để đáp lại những lời kêu gọi về việc tạo ra nguồn thu ổn định cho đảng. Thành công rực rỡ của họ trong những năm đầu thập niên 1980, khi 80% số tiền họ thu được thông qua biện pháp gửi thư là bằng séc có giá trị thấp hơn 30 USD, được biểu hiện trong Hình 12 – 8.

Với số tiền thu được này, Đảng Cộng hòa đã mở rộng đội ngũ nhân viên của mình và bắt đầu cung cấp hàng loạt dịch vụ cho các ứng cử viên. Hiện nay, Đảng Cộng hòa giúp các ứng cử viên chạy đua vào những chức vụ của liên bang tiến hành gây quỹ, tuân thủ các quy định tài chính trong vận động tranh cử, thiết kế các cuộc thăm dò, nghiên cứu hồ sơ của các đối thủ, tập hợp danh sách cử tri để liên hệ, và thiết kế các chiến lược vận động tranh cử. Đảng Cộng hòa đóng góp một khoản tiền lớn trực tiếp cho ngân sách vận động tranh cử của ứng cử viên. Trong một vài năm, những người Cộng hòa đã tiến hành các chiến dịch vận động tranh cử trên toàn quốc cho toàn bộ danh sách ứng cử của đảng. Các ứng cử viên Cộng hòa cũng được giúp đỡ gián tiếp bằng các khoản tiền và việc đào tạo mà đảng trung ương dành cho các tổ chức Đảng Cộng hòa ở địa phương và ở bang trên khắp đất nước nhằm tăng cường sức mạnh củ đảng ở cấp cơ sở. Bên cạnh đó, các ủy ban vận động bầu cử đã đẩy mạnh những nỗ lực nhằm xác định, tuyển chọn và đào tạo các ứng cử viên có tiềm năng cho các vị trí trong Quốc hội và cả những chức vụ của bang trong một số trường hợp.

Những người Dân chủ cũng bị cuốn vào một nỗ lực tương tự nhằm mở rộng các dịch vụ do các ủy ban đảng toàn quốc cung cấp khi vào năm 1980, họ mất cả Nhà trắng (vào tay Ronald Reagan) lẫn vị thế đa số trong Thượng viện. Họ vẫn chơi trò rượt bắt trong việc gây quỹ, mặc dù vào năm 2004 họ đã cố gắng thu hẹp khoảng cách đáng kể (xem Hình 12 – 8). Ngược lại với các dự báo, việc cấm các khoản tiền mềm của đảng được thông qua năm 2002 không khiến họ gặp nhiều bất lợi hơn, bởi họ đã có thể tạo nên sự khác biệt lớn bằng cách tìm kiếm nhiều khoản cứng hơn. Cũng như vậy, những người Cộng hòa đã tăng nhanh chóng phần tiền cứng của mình, và cả hai đảng đã thu được hơn 1 tỷ USD tiền cứng cho các chiến dịch vận động tranh cử năm 2004. Thay vì chuyển khoản tiền mềm cho các đảng của bang để hỗ trợ những ứng cử viên liên bang như trước đây, các ủy ban vận động tranh cử vào Quốc hội đơn giản là chuyển sang chi các khoản tiền cứng vào những chiến dịch độc lập (tách biệt với các chiến dịch của ứng cử viên) trong những cuộc chạy đua vào Quốc hội khốc liệt nhất. Số tiền chi cho việc này đã vượt mức 116 triệu USD trong năm 2004, so với con số ít ỏi là 3,4 triệu USD trong năm 2002. Tổng thống tiếp tục là người gây quỹ hiệu quả nhất cho đảng, như trường hợp của cả Bill Clinton và George Bush đã chứng minh (xem hộp “Tổng thống với vai trò người điều phối của đảng”).

Tổng thống với vai trò người điều phối của đảng

Các đảng chính trị thích phân bổ những khoản đóng góp chính trị cho các chiến dịch vận động trong đó tiền của đảng sẽ mang lại hiệu quả lớn nhất. Rất nhiều ủy ban hành động chính trị và cá nhân những người đóng góp – có lợi ích gắn liền với việc đảng nào sẽ kiểm soát chính quyền – cũng mong muốn như vậy. Mặc dù có mục tiêu chung đó, song các đảng và những người ủng hộ tài chính cho đảng phải đối mặt với vấn đề rất nghiêm trọng trong việc điều phối. Kết quả là hàng triệu USD đóng góp cho các chiến dịch vận động tranh cử đã được phân bổ thiếu hiệu quả trong mỗi cuộc bầu cử. Điều đó có nghĩa là chúng được hướng tới những chiến dịch vận động trong đó lợi ích về bầu cử mà khoản tiền đó mang lại thấp hơn lợi ích lẽ ra đã có nếu như số tiền đó được dành cho một số ứng cử viên khác.

Vấn đề này xuất hiện bởi mỗi đảng phải đối diện với rất nhiều người muốn chạy đua vào các vị trí ứng cử. Tất cả bọn họ đều khẳng định bản thân mình là người có khả năng giành chiến thắng, nhưng chỉ có rất ít người trong số này có triển vọng thắng lợi trên thực tế. Những nhà tài trợ trở nên không chắc chắn về việc nên ủng hộ ai. Có thể các quan chức đảng có được thông tin tốt hơn so với cá nhân nhà tài trợ, song họ có lẽ không thể hướng dẫn một cách hiệu quả các nguồn lực được tạo ra bởi các ứng cử viên đang bận rộn cóp nhặt các khoản đóng góp dành cho quỹ tranh cử lớn. Trong cuộc đua tìm kiếm tài trợ, những người gây quỹ thành thạo nhất là các quan chức đương nhiệm, cụ thể là những chính trị gia mà việc bầu cho họ thường ít bị phụ thuộc nhất vào các khoản đóng góp bổ sung. Trong chừng mực họ thành công, họ sẽ thu hút về phía mình các khoản tiền dành cho những người cần chúng nhất – những người thách thức mang tính cạnh tranh của đảng. Tuy nhiên, nếu có quan chức nào của đảng can thiệp để cố gắng định hướng lại khoản tiền từ những người đương nhiệm này sang những người thách thức, ông (bà) ta sẽ nhanh chóng gia nhập đội ngũ những người thất nghiệp.

Vậy thì các đảng có thể làm được gì? Có hai điều: thứ nhất, các đảng có thể gây quỹ càng nhiều càng tốt cho bản thân bằng cách bảo đảm với các nhà tài trợ rằng tiền sẽ được chi tiêu một cách khôn ngoan. Như chúng ta thấy trong Hình 12 – 8, cả hai đảng chính trị đều đã thành công phần nào trong những nỗ lực này. Một chiến lược khác đối với đảng của tổng thống là hãy đưa tổng thống của mình đến các diễn đàn vận động tranh cử, nơi nhà gây quỹ hàng đầu của đảng có thể phát biểu với các nhóm tài trợ và chia sẻ diễn đàn (và như vậy làm tăng độ tin cậy) với những người thách thức. Ngoài việc giúp làm đầy két của đảng và túi tiền của ứng cử viên, sự hiện diện của tổng thống cũng chỉ cho các nhà tài trợ khác thấy nơi họ nên đầu tư những đồng đôla dành cho vận động bầu cử của mình.

Bill Clinton là một ví dụ minh họa điển hình về sức mạnh dẫn dắt chỉ có ở tổng thống trong suốt vòng bầu cử 1999 – 2000. Theo một tính toán, ông đã tham gia 295 sự kiện gây quỹ, với tổng số tiền thu được là hơn 160 triệu USD dành cho các ứng cử viên Quốc hội của Đảng Dân chủ. Hơn 100 triệu USD trong số này được phân chia cho Ủy ban toàn quốc của Đảng Dân chủ, Ủy ban vận động tranh cử Quốc hội của Đảng Dân chủ, và Ủy ban vận động tranh cử vào Thượng viện của Đảng Dân chủ. Không hề thua kém, người kế nhiệm ông là George W. Bush đã tham dự ít sự kiện hơn (74), nhưng thu được số tiền còn lớn hơn trong vòng bầu cử 2001 – 2002, ước tính khoảng 193 triệu USD, trong đó có hơn 72 triệu USD dành cho ba ủy ban vận động bầu cử toàn quốc chủ chốt của đảng.

Mặc dù các đảng phái hiện đại tiếp tục đóng vai trò chủ chốt về mặt tổ chức và tài chính trong nền chính trị bầu cử, song chúng rõ ràng đã đánh mất vị thế gần như độc quyền đối với các nguồn quỹ vận động bầu cử mà chúng nắm giữ cho tới tận giữa thế kỷ XX. Các ứng cử viên, chứ không phải các đảng, là trọng tâm của các chiến dịch; những hoạt động của đảng là nhằm giúp cá nhân ứng cử viên tran cử hiệu quả hơn, chứ không phải nhằm thúc đẩy vai trò của đảng. Theo nhà khoa học chính trị John Aldrich, “Một hình thức đảng phái mới đã xuất hiện, một hình thức “phục vụ cho” các chính trị gia giàu tham vọng của nó nhưng không “kiểm soát” được họ như các đảng đa số [trong quá khứ] đã làm”.

Động cơ lợi ích còn tiếp tục

Các đảng phái của Mỹ phát triển và tiếp tục tồn tại bởi chúng đã chứng tỏ sự hữu ích của mình đối với các chính trị gia và cử tri đang cố gắng hành động tập thể trong khung thể chế do Hiến pháp tạo ra. Hệ thống liên bang mang lại động lực mạnh mẽ để tổ chức và mở rộng cả các liên minh lập pháp và bầu cử – có nghĩa là các đảng chính trị – để giành và thực thi quyền lực chính trị. Một mặt, nó đem đến phần thưởng cho những nhà đầu cơ chính trị có khả năng tổ chức hành động tập thể trong các thể chế chính quyền và diễn đàn bầu cử. Mặt khác, nó thúc đẩy các cử tri sử dụng mác đảng phái để đơn giản hóa các quyết định của họ, mang lại cho các chính trị gia một lý do để hợp tác với các nhà lãnh đạo đảng nhằm duy trì giá trị của “nhãn hiệu” đảng phái.

Mặc dù các liên minh đảng phái đã biến chuyển để phản ứng trước những vấn đề và tranh chấp mới của quốc gia, với kết quả là sự hình thành năm – có lẽ sáu – hệ thống đảng phái rõ rệt, song mẫu hình cơ bản của sự cạnh tranh giữa hai liên minh lớn và thường xuyên chia rẽ vẫn tồn tại. Hệ thống hai đảng xuất phát từ tính toán bỏ phiếu chiến lược trong cuộc chạy đua vào chức vụ tổng thống (và tất cả các chức vụ liên bang khác) trong đó người chiến thắng giành tất cả, và được củng cố bởi các luật lệ (ví dụ như ủy quyền tại các vòng bầu cử sơ bộ) coi các đảng phái như những hợp phần chính thức của bộ máy bầu cử. Các liên minh đảng phái tiếp tục mang tính bè phái bởi những nhà đầu cơ đảng phái theo đuổi vị thế đa số phải kết hợp các nhóm khác nhau, vốn không phải là đồng minh tự nhiên và cũng không sẵn sàng trả giá cao cho sự tuân thủ vì lợi ích của đảng. Nhưng các liên minh này vẫn tồn tại bởi các tổ chức đảng vẫn mang tính phân cấp, phản ánh sự phân cấp trong các thể chế của chủ nghĩa liên bang Mỹ.

Những cải cách trong kỷ nguyên Cấp tiến, được tiếp nối bằng sự phát triển các công nghệ truyền thông mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đã làm suy yếu các tổ chức đảng truyền thống và chấm dứt sự kiểm soát độc quyền của chúng đối với các chiến dịch vận động bầu cử, nhưng đảng phái vẫn tiếp tục đóng vai trò trung tâm trong nền chính trị bầu cử. Bất chấp sự coi thường đối với các đảng, cử tri vẫn dựa chủ yếu vào các đầu mối đảng phái để đưa ra quyết định của mình, bởi mác đảng phái vẫn tiếp tục là nguồn thông tin rẻ và hữu ích về các ứng cử viên. Về phần mình, những nhà đầu cơ đảng phái đơn giản là thiết kế lại các tổ chức đảng để có thể hoạt động hiệu quả hơn trên chính trường bầu cử tập trung vào ứng cử viên và định hướng bởi thông tin hiện nay. Họ đang bước tiếp trên con đường mà Jefferson và Van Buren đã đi tiên phong, và với cùng một lý do: bầu ra những người cùng quan điểm để họ có thể định hình chính sách công theo mong muốn của mình.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s