Định hướng dài hạn và chiều giá trị Globe

Chúng tôi đã giới thiệu về nghiên cứu GLOBE là tuyên bố để nhân rộng và cải thiện mô hình của Geert qua khoảng 60 quốc gia. Chúng tôi đã so sánh kết quả của GLOBE với kết quả của chúng tôi. Chiều giá trị GLOBE được lấy cảm hứng từ LTO của chúng tôi được gọi là định hướng tương lai.

Trong bản LTO cũ của chúng tôi, LTO – CVS, qua 21 quốc gia liên quan chặt chẽ tới 4 trong số 8 thước đo của GLOBE, nhưng cuối cùng chỉ có một quan hệ rất tiêu cực còn lại: với định hướng thể hiện “nên”; điều này giải thích 51% của sự biến động trong LTO – CVS. Chiều hướng đánh giá trên năng lực “nên” liên quan với Mạnh mẽ của Misho: nó ngụ ý rằng “Chúng ta nên là quốc gia có sự thể hiện tốt”: cảm giác tự đề cao bản thân, điển hình trong văn hóa định hướng ngắn hạn. Định hướng dài hạn liên quan tới sự mềm dẻo (flex huminity), do đó mối quan hệ tiêu cực này là hợp lý.

Qua 49 quốc gia, bảng đánh giá LTO – WVS mới của chúng tôi tương quan đáng kể với 6 trong số 18 thước đo của GLOBE. Mối tương quan mạnh mẽ nhất một lần nữa lại có quan hệ tiêu cực với định hướng đánh giá theo năng lực “nên” và cũng quan hệ tiêu cực với tập thể nhóm “nên”. Nhóm “nên” có nghĩa là niềm tự hào của gia đình, trong nửa đầu của bài viết chúng ta thấy rằng các gia đình tại các nước có LTO cao thực dụng hơn là tự hào về tình cảm của gia đình.

Định hướng tương lai của GLOBE “như là” có nghĩa là thể hiện định hướng lâu dài, không liên quan tới một trong những thước đo LTO của chúng tôi, nhưng với sự kết hợp của UAI thấp và PDI thấp. Đó là về lập kế hoạch cho tương lai, và những người trả lời của chương trình nghiên cứu GLOBE này khá là thoải mái, xã hội bình đẳng yêu cầu làm điều này nhiều hơn.

Định hướng tương lai “nên là” liên quan tới sự kết hợp của PDI cao và LTO – WVS thấp. Nó biểu thị cho “tiêu chuẩn được chấp nhận nên là kế hoạch cho tương lai” và “mọi người nên lo lắng về khủng hoảng hiện nay”. Người trả lời trong môi trường chính quyền, văn hóa định hướng ngắn hạn có vẻ đồng ý nhiều hơn với phát biểu “nên”.

Nỗ lực của GLOBE để tái định hướng lâu dài thành “định hướng tương lai” do đó thất bại hoàn toàn, sự tương quan sâu sắc duy nhất giữa hai điều này lại mang nghĩa tiêu cực.

Định hướng dài hạn và ngắn hạn, mối quan hệ gia đình và kết quả học tập

Chúng tôi đã nói về nghiên cứu năm 2005 về hình ảnh bản thân và sắc đẹp lý tưởng của các cô bé trong lứa tuổi từ 15 đến 17 từ 10 quốc gia trên toàn thế giới. Các nghiên cứu tương tự phỏng vấn qua điện thoại với mẫu lớn của phụ nữ từ 18 tuổi tới 64 tuổi trong cùng 10 nước. Phụ nữ ở những nước theo định hướng ngắn hạn thường kể về mẹ của họ có ảnh hưởng tích cực tới cảm xúc và vẻ đẹp của họ, và quan điểm về vẻ đẹp của mẹ họ đã ảnh hưởng đến họ. Chúng tôi thừa nhận sự đóng góp của mẹ cho sự tự nâng cao bản thân của con gái như một phần của nền văn hóa theo định hướng ngắn hạn.

TIMSS (Xu hướng trong nghiên cứu Toán học và Khoa học quốc tế) là một thử nghiệm so sánh hoạt động toán và khoa học được tiến hành cứ 4 năm một lần trên hơn 50 quốc gia của tất cả các châu lục. Vòng cuối cùng của nghiên cứu này được viết năm 2007. Thành phần tham gia là những học sinh lớp 4 (khoảng 10 tuổi) và/hoặc học sinh lớp 8 (khoảng 14 tuổi). Một cách kiên trung, học sinh Đông Á (Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản) làm tốt hơn học sinh từ những nước khác, đặc biệt là môn Toán. QUốc gia đạt kết quả thấp nhất là châu Phi, Trung Đông và Mỹ Latinh.

Sử dụng dữ liệu từ năm 1999, Geert thấy rằng sự thể hiện trong môn Toán liên quan chặt chẽ tới LTO – CVS; sự thể hiện trong môn Khoa học lại không như thế, mặc dù Khoa học và Toán có sự liên kết chặt chẽ. Có điều gì đó trong những nước có LTO cao mà đóng góp vào kỹ năng toán học. Những nước giàu có làm tốt hơn chút ít so với nước nghèo, nhưng việc giỏi Toán lại liên quan tới LTO – CVS hơn là với sự giàu có của quốc gia.

Misho đã giải thích rằng cả Toán học và Khoa học thể hiện khác nhau từ chiều giá trị “Mạnh mẽ” và lý thuyết của Heine. Văn hóa khuyến khích sự đề cao bản thân sẽ giảm sự quan tâm của đứa trẻ tới những hoạt động tự hoàn thiện bản thân, ví dụ giáo dục. Trong văn hóa đề cao sức mạnh, con người tìm kiếm thông tin về bản thân và miễn nhiệm thông tin tiêu cực. Nó làm nên nền văn hóa mềm dẻo để khuyến khích thừa nhận rằng con người cần hoàn thiện bản thân.

Các nghiên cứu cũ đã chỉ ra rằng tại Hoa Kỳ, sinh viên châu Á có xu hướng coi thành công là do nỗ lực và thất bại là do thiếu nỗ lực hơn là sinh viên châu Âu, điều này phù hợp với giải thích của Misho.

Chúng tôi phân tích điểm số TIMSS năm 2007, so sánh chúng với LTO – CVS, LTO – WVS và sự giàu có của quốc gia. Một lần nữa LTO – CVS chỉ tương quan với giỏi Toán, không tương quan với giỏi Khoa học, mặc dù cả hai đều tương quan với nhau. LTO – WVS tương quan ở mức cao với cả Toán và Khoa học, mặc dù các mối tương quan với Toán luôn mạnh hơn.

Những kết quả này cho thấy kết quả TIMSS, cả giải thích cảu Geert và Misho đều đúng. Điểm LTO – WVS cao đi kèm với Toán và Khoa học, và hiệu ứng này vẫn còn khi loại bỏ tác động của yếu tố sự giàu có của quốc gia, ít nhất là đối với học sinh lớp 8. Đối với học sinh lớp 4, kết quả học tập ở trường tốt hơn lại do sự giàu có của quốc gia.

Đồng thời, các mối tương quan giữa LTO – CVS chỉ còn lại đáng kể cho khả năng với Toán học, không đáng kể với khả năng học môn Khoa học. Trong các mối tương quan này có nhiều nước Đông Á. Trong các mối tương quan của các nước Đông Á có điểm LTO – WVS thấp chiếm một phần nhỏ, mối tương quan này có ý nghĩa cho cả khả năng Toán và Khoa học, nhưng luôn có phần nhiều hơn cho Toán. Chúng tôi kết luận rằng học sinh Đông Á có lợi thế gấp đôi: họ không chỉ chăm chỉ mà họ còn có tài năng để học Toán. Lợi thế này tồn tại đối với cả học sinh lớp 4 (10 tuổi) trong khi hiệu quả chăm chỉ chỉ bắt đầu với học sinh lớp 8 (14 tuổi).

Một giả định truyền thống là học sinh Đông Á tập trung vào việc học thuộc lòng hơn là hiểu, nhưng sự thể hiện vượt trội về Toán học của học sinh các nước LTO – CVS cao đã bác bỏ điều đó. Điều mà phương Tây tưởng là học vẹt trong thực tế là cách để hiểu. Dạy và học là điều kiện có văn hóa và rõ ràng những hành vi tương tự có thể có ý nghĩa khác nhau.

Toán học cơ bản chỉ ra vấn đề được xác định rõ, trong đó mục tiêu được quy định rõ ràng; “hính thức” hơn là “mở”. Sinh viên từ những nước có LTO cao chứng tỏ là được trang bị tốt hơn để giải quyết vấn đề. Giáo sư Gordon Redding, người đã nhiều năm giảng dạy tại trường đại học viết:

Học sinh Trung Quốc nếu bắt đầu được giáo dục trong nền văn hóa, ngôn ngữ riêng của anh ta, sẽ phải bắt đầu sử dụng quá trình nhận thức cái mà cho anh ta một sự “ấn định” trên thế giới. Có thể thấy vài lý do cho chiều hướng đáng chú ý này của Trung Quốc tới một số môn học nhất định, đặc biệt là Khoa học, nơi mà “cá nhân và thực tế” là hết sức quan trọng, và cho chiều hướng của họ không chuyển động tự nhiên trong cõi trừu tượng của triết học và xã hội học.

Có một câu hỏi chung Tại sao sự điều tra truyền thống khoa học năng động lại thất bại tại Trung Quốc cùng theo cách nó làm ở phương Tây. Sự giải thích cho sự khác biệt là trong cấu trúc nhận thức của loại cơ bản.

Một tài năng ngụ ý tài năng cho giải quyết vấn đề. Việc gì là quan trọng trong văn hóa LTO cao hơn là tại sao nó hiệu quả. Chủ tịch Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói: “Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là nó bắt được chuột”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s