III/ Khởi nguồn của lực lượng chống đối có tính phá hoại ở Trung Quốc đại lục

Sự chống đối có tính lật đổ ở Trung Quốc Đại lục “thời kỳ hậu – Mao Trạch Đông” chủ yếu là hai sự kiện Thiên An Môn năm 1976 và năm 1989 cùng với “mùa Xuân Bắc Kinh” năm 1979 và phong trào học sinh cuối năm 1986.

Thủ tướng Chu Ân Lai, người có uy vọng rất cao ở Đại lục, tạ thế ngày 8 tháng 1 năm 1976. Ngày 4 tháng 4 (Nông lịch là ngày tống chug cho người đã khuất), quần chúng tụ tập tại Quảng trưởng Thiên An Môn, dâng hoa, dân thơ tỏ nỗi đau buồn. Trong điếu từ, có người phê phán Giang Thanh và lũ 4 tên, cũng có người trực tiếp công kích Mao Trạch Đông. Buổi tối quân cảnh thu dọn quảng trường, dẹp hết các vòng hoa… Ngày hôm sau dân thành phố Bắc Kinh phẫn nộ, quần chúng thị uy bắt đầu tụ họp, xô xát với công an, đốt xe cảnh sát. Vào đêm, quần chúng tản mác, cảnh sát bắt đầu bắt, đánh đập mấy trăm quần chúng thị uy còn lại ở Quảng trưởng. Bộ Chính trị BHCTW Trung Cộng mở hội nghị khẩn cấp, coi quần chúng thị uy là “bạo động phản cách mạng”. Tạp chí Động thái lý luận ngày 10 tháng 5 năm 1978 đăng bài Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm chứng chân lý. Cho đến Hội nghị công tác của Trung ương ngày 10 tháng 11 cùng năm, cuộc luận chiến về “tiêu chuẩn của chân lý” kéo dài nửa năm là một phong trào giải phóng tư tưởng quy mô lớn nhất kể từ ngày Trung Cộng lập chính quyền trở đi. Bất kể là trong đảng cộng sản hay ngoài xã hội đều có những đòi hỏi ở mức độ tương đối lớn về việc chấm dứt nền chuyên chế. Đúng lúc này tờ Thanh niên Trung Quốc vừa mới tái bản đã đăng các bài thơ về vụ quảng trường Thiên An Môn và các bài minh oan cho sự kiện Thiên An Môn. Phó Chủ tịch Đảng phụ trách về tư tưởng là Uông Đông Hưng đã ra lệnh cấm phát hành với cớ là: thuộc tính phản cách mạnh của sự kiện quảng trường Thiên An Môn là do Mao Trạch Đông phán định, không thể minh oan. Nhân viên làm việc ở Thanh niên Trung Quốc đã đem dán từng trang báo đã in xong lên tường Tây Đơn. Dân chúng lại nhằm vào sự kiện này, dán báo chữ to lên tường quảng trưởng Thiên An Môn, phê phán Uông Đông Hưng. Đó chính là khởi nguồn của “bức tường dân chủ” Tây Đơn. Kết quả là báo chữ to được dán ngày càng nhiều, trong đó phê phán Mao Trạch Đông, cho rằng công tội của ông ta phải là “7/3”, phản đối “hai cái phàm là”, chủ trương tự do ngôn luận, tự do báo chí, dân chủ chính trị và pháp trị, triệt để sửa lại các án oan, án giả, án sai, chủ trương thử hiện đại hóa thứ năm…, làm cho “bức tường dân chủ” trở thành trung tâm chính trị quan trọng của Đại lục cuối năm 78 và đầu năm 79.

Làn sóng tự do hóa trong ngoài Đảng này thanh thế tương đối lớn, người giữ chức thị trưởng thành phố Bắc Kinh lúc xảy ra vụ Thiên An Môn 5 /4/1976 là Ngô Đức bị buộc từ chức vào tháng 10. Tính chất “phản cách mạng” của sự kiện Thiên An Môn 5/4 đã được minh oan vào ngày 14 tháng 11. Hội nghị trù bị – Hội nghị công tác trung ương – tiến hành trước Hội nghị toàn thể III BCH TW khóa 11 ĐCS Trung Quốc, đã hoàn toàn không khống chế được, những vấn đề tiêu biểu được bàn luận, như sự kiện quảng trường Thiên An Môn, Bành Đức Hoài và Hội nghị Lư Sơn, sự kiện Đào Chú, vấn đề tập đoàn phản bội 61 tên gồm Bành Châu, Bạc Nhất Ba…, vấn đề gỡ bỏ cái mũ phái hữu, đều là chủ đề của “bức tường dân chủ”, vấn đề do Hoa Quốc Phong nêu ra trong diễn văn khai mạc để yêu cầu mọi người thảo luận, tức là vấn đề chuyển dịch trọng tâm công tác của toàn Đảng, trái lại không được coi trọng.

Tháng 9 năm 1985, để phản đối việc hàng hóa Nhật tràn ngập thị trường Đại lục và việc thủ tướng Nhật Bản là Nakasone Yasuhiro thăm đền Yasukuni, sinh viên Đại học Bắc Kinh đã thị uy. Nhà đương cụ Trung Cộng lúc đầu cho phép tiến hành hoạt động kháng nghị, ngày 18 tháng 9 (54 năm ngày xảy ra sự biến 18/9), học sinh bắt đầu tới quảng trường Thiên An Môn du hành, đơn kháng nghị mở rộng tới việc đòi dân chủ và tự do. Hồ Diệu Bang cử Bí thư Ban Bí thư Trung ương Hồ Khải Lập tiếp xúc với sinh viên. Thị uy kết thúc trong hòa bình.

Phong trào học sinh diễn ra cuối năm 1986 rất có quan hệ với vai trò của Phương Lệ Chi. Hội nghị toàn thể VI BCHTW khóa 12 ĐCS Trung Quốc mở tháng 9 năm này đã tranh luận khá nhiều vấn đề về “phản đối tự do hóa của giai cấp tư sản”. Đặng Tiểu Bình đã có bài nói quan trọng, rằng “phản đối tự do hóa của giai cấp tư sản, tôi đã nói rất nhiều, và tôi luôn kiên trì: phản đối tự do hóa, không những lần này cần nói, mà còn cần nói 10 năm, 20 năm”. Đặng Tiểu Bình và phái nguyên lão nhất trí với nhau về lập trường chống tự do hóa, Hồ Diệu Bang thuộc phái cải cách bị áp chế. Sau Hội nghị, Phương Lệ Chi đi diễn thuyết tại các trường đại học, phủ định chủ nghĩa Marx và CNXH. Lần diễn thuyết của ông ngày 15 tháng 11 tại Trường Đại học Giao thông Thượng Hải càng trấn động một thời. Ông ta nói, trong lĩnh vực khoa học, chủ nghĩa Marx “sai lầm 100%”. Ông ta khuyến khích sinh viên phải dám giành lấy quyền lợi của mình. Chịu ảnh hưởng của tư tưởng của ông ta, cuối tháng 11, sinh viên Đại học khoa học kỹ thuật Trung Quốc (nơi Phương Lệ Chi giảng dạy) ở An Huy đi đầu dấy lên hoạt động thị uy. Bí thư thứ nhất tỉnh ủy là Vạn Lý đích thân tới Hợp Phì gặp lãnh tụ sinh viên. Ngày 5 tháng 12, hàng nghìn sinh viên Đại học khoa học kỹ thuật Trung Quốc thị uy phản đối đảng thao túng việc bầu cử đại biểu đại hội đại biểu nhân dân. Bị thanh thế của sinh viên ép, nhà đương cục địa phương An Huy phải nhượng bộ, hoãn việc bầu cử để cho sinh viên có thời gian đề cử người dự tuyển. Tin sinh viên giành thắng lợi không cánh mà bay, các nơi như Vũ Hán, Tây An, Thiên Tân, Nam Kinh, Thượng Hải…, có tới 150 trưởng Đại học ở 17 thành phố đều có hoạt động thị uy với quy mô lớn của sinh viên. Trong đó Thượng Hải là sôi động nhất. Ngày 19 tháng 12 gần như học sinh của tất cả các trường đại học chủ yếu ở Thượng Hải đều tham gia thị uy đòi tổ chức các đoàn thể sinh viên độc lập tự chủ, ra báo chi độc lập của sinh viên, đòi dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí… Theo yêu cầu của Hồ Diệu Bang, thị trưởng thành phố Thượng Hải là Giang Trạch Dân tới Đại học Giao thông Thượng Hải đàm phán với sinh viên, không đạt kết quả. Bốn ngày sau chính phủ thành phố Thượng Hải ra lệnh cấm thị uy. Phong trào sinh viên chuyển tới Bắc Kinh. Ngày 24 tháng 12 sinh viên Đại học Bắc Kinh, Đại học Nhân dân, Đại học Thanh Hoa tới quảng trường Thiên An Môn diễu hành. Ngoài việc đòi cải thiện điều kiện cư trú của sinh viên họ còn hưởng ứng yêu sách dân chủ và tự do của sinh viên Thượng Hải.

Ngày 15 tháng 4 năm 1989, Tổng Bí thư Trung Cộng là Hồ Diệu Bang qua đời. Do chính sách bảo hộ các phần tử trí thức của Hồ Diệu Bang trước đây, và là một trong số ít lãnh tụ chính trị cởi mở trong ĐCS Trung Quốc, ông lại bị phê phán là bất lực trong việc thúc đẩy công cuộc “chống tự do hóa của giai cấp tư sản”, ông bị buộc rời khỏi vũ đài vào tháng 1/1987. Giới trí thức vốn dĩ đã vạch ra kế hoạch tổ chức lễ kỷ niệm mở rộng lần thứ 70 phong trào Ngũ Tứ, do Hồ Diệu Bang không may qua đời, học sinh áp dụng những hành vi tương đối quyết liệt (chẳng hạn ngày 30/5 bắt đầu tuyệt thực). Đứng trước áp lực chưa từng có này, nhà đương cục Trung Cộng xử lý không thỏa đáng. Chẳng hạn ngay trong ngày tổ chức Lễ truy điệu Hồ Diệu Bang 22/4, mấy mươi nghìn học sinh tụ tập tại quảng trường Thiên An Môn, cử 3 đại biểu quỳ trước Đại hội đường Nhân dân yêu cầu người phụ trách trung ương tiếp nhưng Trung Công làm ngơ. Bốn ngày sau, xã luận Nhật báo Nhân dân coi phong trào sinh viên là “bạo loạn phản cách mạng”. Xem: Xu Jiadun (Hứa Gia Đồn), Hồi ký Hứa Gia Đồn (Hương Cảng: Báo liên hợp Hương Cảng, 1993), chương 14., làm cho cuộc du hành vốn do sinh viên tổ chức, dân thành phố quan sát và ủng hộ, dần phát triển thành hoạt động thị uy phản kháng quy mô lớn, nhân dân, công nhân, nhà báo, công chức chính phủ tham gia toàn diện, động viên tới mấy trăm ngàn, thậm chí trên 1 triệu người, kéo dài 50 ngày. Trong phong trào còn dần dần hình thành một số tổ chức tự trị quần chúng có tính độc lập, như Hội Liên hiệp tự trị Học sinh cao đẳng Bắc Kinh, Hội tự trị Học sinh cao đẳng ngoài Bắc Kinh, Hội Liên hợp tự trị Công nhân Bắc Kinh, Hội Liên hợp tự trị trí thức Bắc Kinh.

Nhìn chung 4 phong trào chống đối chính trị nói trên, ngoài “sự kiện Thiên An Môn” năm 1976 đơn thuần là sự phản ứng lại cuộc “cách mạng văn hóa” đè nén lâu ngày, còn ba lần khác đều có khuynh hướng theo đuổi chế độ dân chủ, mà mỗi lần đều có bối cảnh mâu thuẫn chính trị và xã hội khá đầy đủ, quy mô cũng ngày một mở rộng. Nhưng dù là hai lần sự kiện Thiên An Môn nổ ra do tưởng nhớ người lãnh đạo đã tạ thế hay “mùa xuân Bắc Kinh” và hoạt động thị uy năm 1986 mang sắc thái dân chủ hóa khá đậm nét, về cơ bản vẫn lấy biến cách trong thể chế làm tiền đề, đặc biệt là sự kiện Thiên An Môn năm 1976 càng như vậy. “Mùa xuân Bắc Kinh” năm 1979 tuy xuất hiện những lời lẽ phê phán Mao Trạch Đông và phản đói “hai cái phàm là” cũng xuất hiện một loạt sách báo do tư nhân xuất bản, nhưng hoàn toàn không hình thành nên làn sóng chống đối thể chế cộng sản. Mỗi sự kiện thị uy đều có liên quan với việc phân phối quyền lực hay chủ trương chính sách của các phe phái bên trong, do vậy đều có điều kiện của “chống đối phe phái”. Diễn thuyết của Phương Lệ Chi cuối năm 1986 tại các trường đại học, cổ động sinh viên phủ định chủ nghĩa Marx – Lenin và CNXH, có thể được gọi là chống đối chính trị “kiểu lật đổ”. Tuy vậy đây chỉ là sự chống đối nhằm vào các nhân vật cá biệt, nhưng mỗi lần hoạt động thị uy đều tạo nên một số trấn động có tính biến cách cho chính quyền Trung Cộng, nên nếu gọi đó là “chống đối chính trị kiểu lật đổ” thì dường như không phải là không được.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như Diệm

Nguồn: TĐB – 96 – 15, 16 & 17

Zhao Jianming (Triệu Kiến Minh) là giáo sư, Viện nghiên cứu KHXH & NV Trung Sơn, Đại học Chính trị Quốc gia, Đài Bắc.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s