Tuy nhiên, ngoại trừ những người theo chủ nghĩa tự do cuồng tín, ít có chuyên gia trong lĩnh vực tiền tệ phản đối ý tưởng cho rằng ngân hàng trung ương ở phạm vi quốc gia là định chế có khả năng đảm nhiệm tốt nhất vai trò này. Để thực hiện nhiệm vụ này, ngân hàng trung ương ít ra có bốn lợi thế so với tất cả các định chế khác.

Thứ nhất, ngân hàng trung ương có thể chuẩn đoán tốt hơn tất cả các định chế khác về việc có hay không có một rủi ro hệ thống hình thành trong một tình huống sốc. Mà chất lượng chuẩn đoán là điều kiện đầu tiên (dù rất hay bị lãng quên) bảo đảm tính hiệu quả trong hoạt động của người cho vay cuối cùng. Ý kiến phản bác cho rằng ngân hàng trung ương cũng không có nhiều thông tin hơn so với các chủ thể thị trường là không nghiêm túc. Bởi một tình huống sốc có đặc trưng là tính bổ khuyết chiến lược cao giữa các chủ thể tài chính tư nhân. Chính đó là bối cảnh khiến cho các mô hình đánh giá rủi ro kinh tế vi mô của các định chế tài chính bị đánh lừa bởi những tác động ngoại hiện xuất phát từ sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các định chế này. Bởi lẽ tất cả các định chế đó đều sử dụng các mô hình như nhau, nên tất cả đều vội vã trốn chạy rủi ro khiến cho tình hình kinh tế vĩ mô trở nên nghiêm trọng hơn. Bởi lẽ, ngân hàng trung ương không phải là một chủ thể thị trường, mà là một định chế có chức năng bảo đảm sự ổn định tài chính thực tế được coi là một tài sản công cộng, nên ngân hàng trung ương có động lực tìm kiếm những thông tin khác nhau cần thiết cho việc chuẩn đoán. Hơn nữa, bởi vì ngân hàng trung ương có mối tiếp xúc chặt chẽ với thị trường nên nó có khả năng phát hiện ra những khâu yếu trước khi hiện tượng lây lan và khiến cho những trục trặc tài chính vượt ra khỏi khu vực bùng phát ban đầu.

Thứ hai, về thứ bậc, ngân hàng trung ương cao hơn các ngân hàng khác vốn phụ thuộc vào ngân hàng trung ương và ngân hàng trung ương cung cấp phương tiện cho các hệ thống thanh toán liên ngân hàng. Mà các cuộc khủng hoảng thanh khoản cho dù nó hình thành từ các hệ thống thanh toán ngoại vi thì kiểu gì cũng sẽ có tác động đến các hệ thống thanh toán liên ngân hàng. Tóm lại, cho dù ngân hàng trung ương không trực tiếp là người giám sát các ngân hàng khác, thì cơ cấu thanh toán trong lĩnh vực tiền tệ vẫn tạo ra vị trí đặc biệt cho ngân hàng trung ương đối với việc bảo đảm tính ổn định tài chính của tổng thể.

Thứ ba, khi một sự kiện hệ thống xuất hiện và chuyển thành khủng hoảng tài chính sẽ làm suy giảm khả năng chuyển tải chính sách tiền tệ và tạo ra những tình huống phải lựa chọn mục tiêu. Bởi vì ngân hàng trung ương là người chịu trách nhiệm về tính ổn định tiền tệ nên nó là người đầu tiên quan tâm đến việc tạo ra những điều kiện bảo đảm tính hiệu quả trong chính sách của mình đối với tổng thể nền kinh tế.

Thứ tư, ngân hàng trung ương là định chế duy nhất có khả năng phát hành ngay lập tức những lượng tiền không xác định được cụ thể là bao nhiêu. Vì thế nó có thể xác lập được những mức giá sàn trên các thị trường tài chính cốt yếu mà dựa vào đó có thể định giá được phần thưởng rủi ro theo một cấu trúc phân biệt.

So với học thuyết này, hành động tập thể trong các cuộc khủng hoảng quốc tế đặt ra hai vấn đề. Trước hết, danh tính của người cho vay cuối cùng không phải là một thuộc tính tự nhiên. Tiếp đó, chế độ xử lý khủng hoảng có sự tham gia của người cho vay cuối cùng không đặt dưới một quyền lực chính trị – pháp lý quyết định được sự phân chia tổn thất và hướng dẫn việc tái cơ cấu tài chính.

Có nhiều khuôn mặt của người cho vay cuối cùng trong các cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế. Từ kinh nghiệm của 30 năm gần đây cũng cho phép đưa ra được ít ra là ba mô hình. IMF nếu có trong số này thì cũng chỉ đứng ở vị trí thứ ba. Sự tham gia của IMF đặt ra những dấu hỏi cho mô hình hành động tập thể, vì chúng ta đã chỉ ra những lý do khiến cho người cho vay cuối cùng gắn chặt với chức năng của ngân hàng trung ương, mà đây lại không phải là đặc thù của IMF. Chí ít thì mô hình này cũng không liên quan gì đến sự trợ giúp tương hỗ của các chính phủ vốn là nền tảng của các nhiệm vụ được quy định trong Quy chế của IMF.

Mô hình thứ nhất bắt nguồn từ sự mở rộng ra phạm vi quốc tế các hoạt động ngân hàng và từ sự hình thành các tập đoàn tài chính đa quốc gia hay thậm chí không có quốc tịch rõ ràng. Những khó khăn có thể lan tỏa ra khắp hệ thống ngân hàng quốc tế từ sự đổ vỡ của một thực thể có hoạt động thanh toán quốc tế hay có những cam kết tài chính với những ngân hàng có mức độ rủi ro cao. Câu chuyện về sự đổ vỡ của các ngân hàng Herstatt, Ambrosiano, BCCI có bóng dáng của những cơn lốc tài chính từ những năm 1970. Câu lạc bộ các ngân hàng trung ương đặt dưới sự chủ trì của hội đồng thống đốc giành lấy quyền giải quyết các vấn đề nảy sinh từ những sự cố này. Nó đã xác định một cách thiết thực sự phân chia trách nhiệm đối với các chủ thể tài chính vỡ nợ bên ngoài nước mà mình mang quốc tịch hay việc vỡ nợ có những ảnh hưởng khiến cho định chế tài chính ở các nước khác bị lung lay. Đó chính là một sự hợp tác quốc tế của các ngân hàng trung ương dưới dạng cùng chia sẻ kinh nghiệm rút ra từ những rủi ro nảy sinh trong quá trình toàn cầu hóa.

Mô hình thứ hai xuất phát từ sự lan tỏa ra phạm vi quốc tế của các cuộc khủng hoảng thanh khoản bùng nổ trên một số thị trường tài chính hay tiền tệ gặp rối ren (đổ vỡ chứng khoán năm 1987, hệ lụy của cú sốc LTCM tháng 9 và tháng 10 năm 1998, nhu cầu rút tiền ồ ạt ở các ngân hàng sau sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001). Khi đó các ngân hàng trung ương sẽ can thiệp một cách thận trọng. Đó là trường hợp người cho vay cuối cùng nổi trội (FED) khi các thị trường gặp khủng hoảng sử dụng một đồng tiền quốc tế (đồng USD). Cũng có cả những hành động chung của nhiều ngân hàng trung ương trên thị trường liên ngân hàng quốc tế, được tài trợ bằng các nghiệp vụ hoán đổi giữa họ với nhau.

Mô hình thứ ba là mô hình người cho vay cuối cùng từ bên ngoài can thiệp giúp cho một ngân hàng trung ương không thể tạo ra được lượng tiền mặt cần thiết. Đó là trường hợp các quốc gia thuộc nhóm thị rường mới nổi có ngân hàng và doanh nghiệp vay nợ bằng ngoại tệ. Một cuộc khủng hoảng tài chính trong nước kéo theo việc dịch chuyển yêu cầu thanh khoản sang thị trường ngoại hối. Chỉ cần có sự nghi ngại ngân hàng trung ương không đủ dự trữ trong trường hợp tỷ giá khung hay nghi ngại tỷ giá sụt giảm mạnh trong chế độ tỷ giá thả nổi là thực tế sẽ có tác động trở lại làm tăng tính bấp bênh của hệ thống tài chính khiến cho cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng. Trong trường hợp này, một khoản cho vay của một định chế quốc tế, có thể là IMF, sẽ cho phép ngân hàng trung ương của quốc gia thụ hưởng trở thành người cho vay cuối cùng đối với hệ thống tài chính của chính nước mình.

Đó đúng là một sự can thiệp quốc tế cuối cùng, vì vấn đề là khôi phục tính thanh khoản. Nhưng cuộc khủng hoảng châu Á đã chỉ ra rằng nếu sự can thiệp này không nằm trong một hệ thống xử lý khủng hoảng đầy đủ thì nó sẽ tạo ra những tác động phân phối lại khiến mọi người rất sửng sốt. Nó tạo ra một sự chuyển dịch ồ ạt tài sản từ người dân những nước gặp khủng hoảng sang các nhà đầu tư quốc tế. Sự bất thường này xuất phát từ sự biến tướng của một mô hình hành động tập thể (trợ giúp những khó khăn trong cán cân thanh toán) trong những điều kiện mà việc thực hiện mô hình này là không phù hợp. Chính vì vậy mà điều kiện hậu kiến gắn liền với các khoản vay này lại xa lạ với nguyên tắc củ người cho vay cuối cùng là bảo toàn tính thanh khoản của thị trường và chặn đứng sự lây lan. Tuy nhiên, những hoạt động can thiệp của IMF từ mùa thu năm 2000 đến nay ở Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ đúng là nhằm mục tiêu tiền tệ. Đây là việc phòng ngừa tình trạng thị trường trái phiếu quốc tế trở nên mất ổn định. Thực tế, kết quả của các hoạt động can thiệp này là tránh được sự lây lan. Nhưng do không nằm trong một hệ thống xử lý khủng hoảng, nên các hoạt động can thiệp đó đã gây ra những hậu quả tai hại cho các nước liên quan.

Để trở thành người điều phối của một hệ thống như vậy, IMF trước hết phải nâng cao các phương pháp giám sát của mình để có thể phát hiện được một hiện tượng hệ thống đang hình thành. Đó là một sự thay đổi phương pháp đáng kể so với công việc giám sát kinh tế vĩ mô thường lệ theo điều IV vốn nằm trong quy trình trợ giúp tương hỗ liên quan đến những khó khăn về cán cân thanh toán. Giám sát chủ yếu là công việc theo dõi chính sách ngoại hối. Nó được tiến hành trên cơ sở song phương và thông qua sự tham vấn với các chính phủ mà cần có sự đồng ý của họ thì thông tin mới được công bố. Còn giám sát đa phương thì chỉ hạn chế ở việc xác định triển vọng chung của nền kinh tế thế giới. Trong mọi trường hợp, nội dung này không nhằm mục đích phát hiện ra những khu vực dễ bị chấn động tài chính hay chẩn đoán sớm những điều kiện căng thẳng có thể góp phần tạo ra rủi ro hệ thống.

(còn tiếp) 

Nguồn: Hội đồng phân tích kinh tế – Khủng hoảng nợ, phòng ngừa và giải pháp – NXB CTQG 2005

Daniel Cohen từ Đại học Sư phạm, CEPREMAP và CEPR (Pháp), Richard Portes từ London Business School, EHESS và CEPR.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s