Lý do căn bản

Nhu cầu xem xét thấu đáo chiến tranh với Trung Quốc trở nên cấp bách hơn bởi những phát triển trong công nghệ quân sự và học thuyết liên quan: Các thiết bị cảm biến, định vị toàn cầu, điều khiển vũ khí, sự kết nối mạng kỹ thuật số và các năng lực khác được sử dụng để nhắm vào các lực lượng đối địch đã trở nên tiến bộ đến điểm mà lực lượng quân sự của cả Mỹ và Trung Quốc đều gây nên những mối đe dọa nghiêm trọng đối với nhau. Điều này tạo nên khả năng và lý do để tấn công các lực lượng thù địch trước khi bị họ tấn công, điều mà sẽ ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch chiến tranh của cả hai quốc gia. Công nghệ và việc lập kế hoạch quân sự vì thế mà tạo nên xu hướng tiến hành các cuộc tấn công dữ dội lẫn nhau ngay từ đầu, với việc cả hai bên đều có ý định chiếm ưu thế hoặc ít nhất là không để đối phương làm được điều này. Trích lời các nhà chiến lược Trung Quốc: “Có thể đạt được các mục tiêu tác chiến trước khi kẻ thù kịp phản ứng… Nếu PLA [Quân Giải phóng nhân dân] giao chiến với kẻ thù mạnh và công nghệ cao, chúng ta phải giành được yếu tố bất ngờ tác chiến”. Sự kết hợp giữa yếu tố tự tin và gấp rút như vậy có thể bị áp dụng không đúng chỗ và gây nguy hiểm – và không chỉ đối với Trung Quốc.

Mối nguy hiểm vốn có trong mọi việc lập kế hoạch chiến tranh là nó đưa ra và giới hạn những dự tính về những gì sẽ xảy ra trên thực tế. Chỉ một bên tham chiến có ưu thế hơn về mặt quân sự mới có thể ung dung như vậy, và khi nhắc đến Trung Quốc thì Mỹ không còn chiếm ưu thế hay có thể ung dung được nữa. Do lợi thế quân sự của mình so với Trung Quốc giảm sút, Mỹ có thể bớt tự tin rằng chiến tranh sẽ diễn ra theo kế hoạch của mình. Các lực lượng được cải thiện của Trung Quốc, đặc biệt là các lực lượng A2/AD, có nghĩa là Mỹ không thể lạc quan về khả năng giành được quyền kiểm soát tác chiến, phá hủy các hệ thống phòng thủ của Trung Quốc và giành thắng lợi mang tính quyết định nếu chiến tranh xảy ra.

Vì chiến tranh Trung – Mỹ có thể vô cùng tốn kém ngay cả với bên chiến thắng nên không có khả năng nó là kết quả của cuộc tấn công có suy tính trước bởi bất kỳ bên nào. Nhưng khủng hoảng Trung – Mỹ có thể xảy ra và kéo theo những vụ rắc rối hay những tính toán sai lầm mà dẫn đến những hành động thù địch. Trung Quốc có thể tìm cách đe dọa các nước láng giềng dưới ngưỡng sự can thiệp của Mỹ, nhưng lại đánh giá sai vị trí của ngưỡng đó. Trung Quốc có thể đánh giá thấp sự sẵn sàng hỗ trợ Nhật Bản về mặt quân sự của Mỹ trong một cuộc khủng hoảng về lãnh thổ tranh chấp ở biển Hoa Đông. Hơn nữa, mâu thuẫn giữa tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền đối với Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý của mình và sự khẳng định của Mỹ rằng những vùng như vậy là những vùng biển quốc tế vượt quá 12 hải lý có thể đưa các lực lượng tiến sát gần nhau và nguy hiểm nếu hai bên quyết định thực thi quan điểm của mình.

Một trường hợp chứng tỏ các quan điểm trái ngược của Trung Quốc và Mỹ có thể dẫn đến chiến tranh như thế nào tìm được thấy ở biển Nam Trung Hoa. Hỗ trợ mục tiêu của Trung Quốc là biến gần như toàn bộ khu vực biển Nam Trung Hoa thành lãnh hải có chủ quyền, Trung Quốc đã xây dựng các đảo nhân tạo, đường băng và cơ sở hạ tầng khác có thể được dùng cho các mục đích quân sự – và tuyên bố chủ quyền đối với khu vực EEZ rộng 200 hải lý bao quanh chúng. Mỹ sẽ không chấp nhận điều này bởi nó đụng chạm đến một số lợi ích của Mỹ: nguyên tắc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, nguyên tắc tự do hàng hải, thực tế rằng khoảng 40% thương mại thế giới đi qua biển Nam Trung Hoa, và mong đợi của Philippines và các đồng minh khác của Mỹ rằng Mỹ sẽ không bỏ qua các hành động đơn phương của Trung Quốc. Kết quả là, Mỹ đã đưa các tàu chiến của hải quân qua chính những vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền và đang xây dựng trên đó. Dường như có rất ít nghi ngờ về việc Trung Quốc sẽ điều hành các lực lượng ở các vùng biển tranh chấp này, trong trường hợp mà các lực lượng của Trung Quốc và Mỹ sẽ hiện diện và tích cực theo dõi hoặc kiềm chế lực lượng của nhau. Nếu, hay khi, khủng hoảng xảy ra nguy cơ một tàn lửa gây xung đột không chủ ý sẽ tăng lên, có lẽ là một cách đáng kể. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo chính trị ở cả hai bên có thể trở nên bớt linh hoạt, chứ không phải linh hoạt hơn, với quá nhiều thứ bị lâm nguy đến vậy, và các nhà chỉ huy quân sự có thể thuyết phục họ ủng hộ việc leo thang hoặc để răn đe hoặc để chuẩn bị cho xung đột. Trong khi lợi thế hiện nay nghiêng về Mỹ về mặt quân sự ở biển Nam Trung Hoa, khiến Bắc Kinh có khả năng lùi bước nhiều hơn là Washington, nhưng sự tiến bộ và mở rộng của các hệ thống A2/AD của Trung Quốc theo hướng đó có khả năng khiến cho khó có thể tháo ngòi nổ một cuộc khủng hoảng hơn. Vì chiến tranh Trung – Mỹ có thể sẽ khủng khiếp, nên điều này không thể bị coi là không hợp lý.

Như chúng ta sẽ thấy, nguyên nhân của cuộc chiến tranh và sự chú trọng của mỗi bên đến nó có thể ảnh hưởng đến việc họ sẽ chiến đấu mãnh liệt như thế nào và trong bao lâu, cho dù các hành động thù địch có thể tạo nên các động lực và cơn thịnh nộ làm lu mờ sự tính toán hợp lý. Nếu cả hai bên đều có khả năng đáng kể tiến hành chiến tranh và không bên nào có thể giành ưu thế và quyền kiểm soát tác chiến, có nguy cơ giao chiến kéo dài các liệt với chi phí lớn, cho dù cả hai bên có thể đã lên kế hoạch và mong chờ nó kết thúc nhanh chóng. Tình thế như vậy gợi nhắc đến tình thế của châu Âu vào năm 1914, khi một khủng hoảng đã dẫn đến việc tiến hành gần như tự động các kết hoạch quân sự nhằm tấn công đối phương trước khi bị tấn công, khi mà nền kinh tế của hai bên phụ thuộc lẫn nhau, và khi cả hai bên đều nhìn thấy trước một cuộc chiến ngắn. Khi giao chiến diễn biến ác liệt, thương vong tăng vọt và lãnh thổ bị mất và giành được lại, các bên tham chiến nhận thấy bản thân họ đang chiến đấu vì không chỉ là một sự cố liên quan đến việc những người theo chủ nghĩa dân tộc Serbia tìm cách chấm dứt sự kiểm soát của Áo – Hungary đối với Bosnia – Herzegovina. Giờ đây, cũng như khi đó, hệ quả có thể là thiệt hại quân sự nặng nề (khi đó là lính bộ binh, giờ là nền tảng vũ khí) và thiệt hại kinh tế kéo dài cho cả hai bên.

Tóm lại, nguy cơ một sự đối đầu nào đó giữa Trung Quốc và Mỹ dẫn đến những hành động thù địch, khả năng Mỹ giành quyền kiểm soát quân sự – tác chiến giảm dần, khả năng đối kháng quân sự thông thường (khả năng lực lượng Mỹ và Trung Quốc nhắm vào và tiêu diệt lẫn nhau) của quân đội hai bên, khả năng dễ bị tổn thương của hai nền kinh tế và khả năng giao chiến kéo dài với những kết quả thảm khốc đòi hỏi tư duy mới mẻ nhưn chín chắn về chiến tranh Trung – Mỹ. Vì cuộc chiến với Trung Quốc, được nhìn nhận theo quan điểm này, không phải là không hợp lý và có thể rất nguy hiểm và đòi hỏi rất cao, nên Mỹ phải có sự chuẩn bị cho nó. Những yêu cầu về mặt quân sự đối với chiến tranh Trung – Mỹ đã được đề cập một cách rõ ràng trong các quan niệm về lập kế hoạch và điều hành lực lượng của Mỹ (cũng như của Trung Quốc). Nhưng những yêu cầu lớn hơn ở cấp quốc gia, tùy thuộc vào cường độ và thời lượng của cuộc chiến tranh, chưa nhận được sự quan tâm tương ứng. Cả hai nước Mỹ và Trung Quốc đều cần phải nhận thức được các chi phí của cuộc chiến tranh có thể là gì. Nếu những tiến bộ về năng lực đối kháng quân sự thông thường khiến cho cuộc chiến trở nên khó kiểm soát hơn, thì các nhà lãnh đạo cần các công cụ chính trị để tránh cho cuộc chiến phá hủy nhiều hơn những gì nó có thể đạt được.

Các yếu tố cần được xem xét

Khi ưu thế quân sự của Mỹ giảm sút, các nhà chiến lược của Mỹ cần phải xem xét (như nghiên cứu này đang làm) một loạt tình huống bất trắc và các yêu cầu tương ứng. Nghiên cứu gần đây về việc đưa ra quyết định chiến lược phát hiện ra rằng niềm tin phi lý vào khả năng lập kế hoạch, kiểm soát và hạn chế thời lượng giao chiến là một sai lầm phổ biến trong việc bắt đầu các cuộc chiến tranh mà kết thúc tồi tệ. Sau khi phân tích nhiều trường hợp trong lịch sử, một nghiên cứu của RAND kết luận rằng “niềm tin rằng đối phương sẽ tuân theo kịch bản của mình và… rằng kết quả của một quyết định có thể được kiểm soát là ngang với việc cho rằng không có rủi ro. Khi điều này dẫn đến thất bại trong việc chuẩn bị cho những kết quả xấu, hậu quả có thể tồi tệ hơn nhiều”.

Mặc dù việc các lực lượng vũ trang Mỹ lập các kế hoạch chiến đấu và chiến thắng là cần thiết, nhưng niềm tin thái quá vào các kế hoạch như vậy có thể ảnh hưởng bất lợi đến chính sách thời bình, sự quản lý khủng hoảng và các hoạt động thời chiến của Mỹ. Tệ nhất là, sự thiếu chú ý đến mọi chiều hớng và hậu quả có thể có của cuộc chiến với Trung Quốc có thể đưa Mỹ vào tình huống mà nước này không chuẩn bị trước. Tương tự, Trung Quốc sẽ hết sức sai lầm khi cho rằng việc cải thiện năng lực quân sự của mình sẽ khiến cho cuộc chiến với Mỹ có thể kiểm soát, có thể giành chiến thắng và có thể đáp ứng được. Như chúng ta sẽ thấy, có thể là không một nước nào có khả năng kiểm soát, chiến thắng hay đáp ứng một cuộc chiến trong tương lai.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s