IV/ Nguyên nhân sự hưng suy của các thế lực chống đối có tính phá hoại ở Đại lục

Qua việc phân tích trên đây về phát triển của phong trào chống đối kiểu phá hoại có tính lật đổ ở Trung Quốc Đại lục, nhân tố quan trọng hàng đầu làm cho phong trào dân chủ tương tự hưng khởi dường như là sản phẩm tất yếu của mâu thuẫn không thể điều hòa về đường lối giữa các tầng lớp thống trị bên trong Đại lục. Sự tranh chấp về quyền lực và đường lối giữa phái chính thống (phái phàm là) Mao Trạch Đông do “bè lũ 4 tên” và Hoa Quốc Phong (mà về hình thái ý thức thì gần với nhóm trên) đại biểu và phái thực dụng do Đặng Tiểu Bình, Diệp Kiếm Anh, Hồ Diệu Bang đại biểu là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến “Thiên An Môn 5/4” và “Mùa xuân Bắc Kinh” năm 1979. Sự tranh chấp trong nội bộ Trung Cộng vào những năm 80 xung quanh sự khác biệt về hệ tư tưởng và chính sách với trục chính là “phản đối tự do hóa của giai cấp tư sản” không những là nguyên nhân chủ yếu của phong trào sinh viên cuối năm 1986 và sự kiện Thiên An Môn 89, mà nó còn làm cho Hồ, Triệu bị rơi khỏi vũ đài. Màu sắc “chống đối phe phái” tương đối rõ rệt.

Bởi vậy, giúp đỡ và chi viện phái cải cách để đối kháng hay là áp chế sức ảnh hưởng chính trị của phái giáo điều chủ nghĩa đã trở thành nhu cầu thường xuyên của phong trào dân chủ Đại lục. Nói cách khác, khi tập đoàn thống trị có khuynh hướng thực dụng hay cải cách lâm vào hoàn cảnh khó khăn, thì thường dẫn tới sự quan tâm của sinh viên, rồi hình thành nên phong trào dân chủ. Hai sự kiện Thiên An Môn năm 1976 và năm 1986 chính là bức chân dung đạt nhất.

Những điều nói trên là nguyên nhân dẫn đến phong trào dân chủ có tính tự phát ở Trung Quốc Đại lục, còn việc cá nhân kẻ thống trị hay tập đoàn thống trị thúc đẩy mạnh mẽ cải cách hay dân chủ hóa chính trị thì lại là một mô hình khác từ xã hội chuyên chế tới dân chủ hóa. Bởi vậy, lý do thứ hai làm cho phong trào dân chủ ở Đại lục hưng khởi là sự lớn mạnh của phe dân chủ trong Đảng. Nhiều bài nói liên quan đến giải phóng tư tưởng của Đặng Tiểu Bình sau lần tái xuất thứ ba của ông là lực lượng cổ đông chủ yếu của “Mùa xuân Bắc Kinh” năm 1979. Chẳng hạn trong bài phát biểu vào dịp bế mạc Hội nghị Công tác Trung ương tháng 12 năm 1978, ông nói: “Hiện nay, ở thời kỳ này, đặc biệt cần nhấn mạnh dân chủ. Bởi vì một thời gian tương đối dài trước đây, chế độ tập trung dân chủ không được thực sự thực hiện, nói đến tập trung mà tách rời dân chủ, dân chủ quá ít… Cần thiết chế hóa, luật pháp hóa dân chủ, làm cho thứ thiết chế và luật pháp này không vì sự thay đổi người lãnh đạo mà thay đổi. Vấn đề hiện nay là thường thường người ta coi lời nói của người lãnh đạo là “luật”, coi việc không tán thành lời nói của người lãnh đạo là “phạm pháp”. Cuối năm 1986 mấy trăm nghìn sinh viên của hơn 100 trường Đại học tham gia thị uy, ghi rõ dân chủ và tự do trên biểu ngữ thị uy, tỏ thái độ ủng hộ cải cách thể chế chính trị của Trung Cộng, vốn có liên quan đến việc Bành Chân, Đặng Tiểu Bình, tại Hội nghị toàn thể IV BCH TW khóa 12 ĐCS Trung Quốc ngày 9 tháng 9 cùng năm, kiên quyết yêu cầu ghi “chống tự do hóa của giai cấp tư sản” vào dự thảo nghị quyết “phương châm chỉ đạo xây dựng văn minh tinh thần” làm cho Hồ Diệu Bang gặp khó khăn, cũng liên quan tới việc là, từ tháng 9 năm 1975 khi phụ trách khởi thảo Đề cương báo cáo công tác của Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc mang nội dung giải phóng tư tưởng, Hồ Diệu Bang luôn có ý tưởng chính sách tương đối mở. Chẳng hạn năm 1984 Hồ đã chủ trương, các tổ chức như Hội Nhà văn… thì có thể thông qua phương thức dân chủ tự bầu ra ban lãnh đạo của mình.

Bối cảnh thúc đẩy sự chống đối của phe phái và các cải cách dân chủ của cá nhân nhà thống trị đối với hoạt động thị uy của Trung Quốc Đại lục cũng làm cho tần số “chống đối các chính sách cá biệt” tăng lên? Tranh luận về cải cách giá năm 1988 là một thí dụ.

Sự bất đồng về đường lối trong Đảng đã là động lực chủ yếu làm xuất hiện lực lượng phản đối kiểu lật đổ ở Đại lục, bởi vậy mâu thuẫn xã hội nuôi dưỡng sự bất đồng về đường lối này là nhân tố thứ ba cần suy xét. Cách làm của Mao Trạch Đông lâu nay, tức dùng lực lượng chính trị để bóp méo mạnh mẽ chế độ đã làm cho đến những năm 70, Trung Quốc Đại lục đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn và khủng hoảng cùng nhau xuất hiện. Về mặt kinh tế, trong vòng 20 năm từ năm 1958 đến năm 1978, kinh tế các nước Đông Á phát triển nhảy vọt, nhưng thu nhập bình quân của Trung Quốc Đại lục gần như không tăng. Về mặt chính trị, các phong trào đấu tranh giai cấp liên miên đã sớm làm gay gắt thêm mâu thuẫn xã hội của Đại lục. Việc tạo phản và phá hoại mù quáng của cách mạng văn hóa đã chôn vùi sự phản kháng tự giác sau “sách mạng văn hóa”, chứng tỏ những thành viên chủ yếu của “bức tường dân chủ Tây Đơn” đều là những hồng vệ binh cũ và nhữg thanh niên trí thức cũ, cảm giác của họ về tình trạng quyền uy và chuyên chế quá mức trước đây đã làm nẩy sinh ở họ sự giác ngộ mới.

Cải cách kinh tế của Trung Cộng bắt đầu từ nông thôn, lúc đầu tiến triển tương đối mạnh, thúc đẩy Trung Cộng, tại Hội nghị toàn thể III BCH TW khóa 12 khai mạc tháng 10 năm 1984, thông qua Nghị quyết của BCH TW ĐCS Trung Quốc về cải cách thể chế kinh tế, và bắt đầu cái gọi là cải cách kinh tế ở thành phố. Nhưng sau khi mở cửa cho hàng ngoại nhập vào, các hành vi không chính đáng, như buôn lậu… đã sinh sôi, và đến mùa xuân năm 1985 những hành vi không chính đáng này đã đạt tới bến bờ của sự không khống chế được. Cùng với việc tiến hành nối tiếp nhau cải cách vật giá và cải cách lương, nạn lạm phát và tranh mua khó dẹp yên, khoảng cách giàu nghèo trong xã hội rộng mở. Đứng trước tình hình nghiêm trọng như vậy, nhà đương cục không những không dựa vào pháp chế để giải quyết, trái lại chỉ biết dùng các biện pháp chính phong truyền thống, bước đi trong nội bộ lại không thống nhất, làm cho việc “chống hàng ngoại”, “cải thiện điều kiện sống” trở thành yêu sách chủ yếu của phong trào sinh viên cuối năm 1986.

Từ năm 1984 về sau, cải cách kinh tế đã xuất hiện tình trạng cổ bình nghiêm trọng. Nguyên nhân đầu tiên là cải cách chính trị chưa được thực hiện. Bởi vậy việc tách đảng và chính quyền, tách chính quyền và xí nghiệp trở thành một trọng điểm mới của cải cách. Đề án tổng thể về cải cách thể chế chính trị do Hội nghị toàn thể VII BCH TW khóa 12 ĐCS Trung Quốc thông qua và một số đề án cải cách chính trị do Đại hội 13 của Đảng thông qua vừa bắt đầu công bố đã gây ra sự bất mãn của cán bộ trung ương và địa phương các cấp, ví như xóa bỏ ngành tổ chức và đối khẩu của Đảng thì lấp tức gặp phải sự phản đối quyết liệt, nhiều địa phương về cơ bản không chịu chấp hành. Việc đề xướng chế độ công chức gặp phải sự phản đối quyết liệt của ngành tổ chức trung ương, bởi vì thực hiện chế độ công chức tất nhiên xâm phạm đến quyền nhân sự, vốn là sức mạnh thống trị chủ yếu nhất của đảng cộng sản. Ngay cả một việc đơn giản nhất là tinh giản bộ máy để nâng cao hiệu suất cũng bao hàm nhân tố chủ nghĩa ngành. Về kinh tế, tuy thiếu những điều kiện khác để phối hợp, tháng 5/1988 Đặng Tiểu Bình vẫn công nhân đề xuất việc “xông vào cửa vật giá”. Về nguyên nhân vật giá tăng quá nhanh, Thủ tướng Lý Bằng, Phó Thủ tướng Diêu Y Lâm vốn có cách nhìn khác với Triệu Tử Dương. Nay bỗng nhiên nói “xông vào cửa vật giá” thì lập tức gây ra việc tranh mua tranh đổi toàn diện. Đến tháng 9, tình hình đã chuyển biến đến chỗ khá nghiêm trọng. Có người đề ra chế độ “nhà nước độc quyền bán lương thực”, một việc mà ngay cả những năm 50 cũng không thực hiện nổi. Mâu thuẫn kinh tế và chính trị tích chất lại đặt cơ sở cho phong trào dân chủ năm 1989.

Nhân tố chủ nghĩa dân tộc cũng hoặc ít hoặc nhiều ảnh hưởng tới sự bùng nổ phogn trào dân chủ của Trung Quốc Đại lục. Sự coi trọng của chính quyền Trung Cộng đối với phong trào Ngũ Tứ làm cho tinh thần của Phong trào Ngũ Tứ nhấn mạnh tới hai lý tưởng lớn là Dân chủ và Dân tộc không tránh khỏi vẫn lưu hành rộng rãi trong giới trí thức Đại lục. Phong trào sinh viên cuối năm 1986 đã thể hiện đặc biệt rõ kích thích tố dân tộc chủ nghĩa. Do thời gian Nhật Bản kinh doanh mối quan hệ Trung (Cộng) – Nhật tương đối dài, sau khi ở Trung Quốc Đại lục thực hiện chính sách mở cửa ra bên ngàoi, Nhật Bản thu lợi nhất, hàng hóa Nhật ồ ạt nhập vào. Lại do Trung Cộng trước đây không hề có kinh nghiệm giao lưu kinh tế với các nước phương Tây, nên buổi đầu giao lưu với Nhật Bản, Trung Cộng khó tránh khỏi bị thiệt hại. Tháng 8 năm 1985, Thủ tướng Nhật Bản là Nakasone tới Đền thờ Yasukuni tế lễ, nhà đương cục Trung Cộng phát động các cơ quan thông tin đại chúng, tổ chức lễ kỷ niệm. Thượng tuần tháng 9, sinh viên Đại học Bắc Kinh bắt đầu dán báo chữ to trong trường, lưu ý cảnh giác chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản ngóc đầu dậy.

Do chính quyền Trung Cộng thiếu kênh để thiết chế hóa việc giải quyết xung đột chính trị nên mâu thuẫn chính trị có xu thế mở rộng ra vô hạn. Lại do hệ tư tưởng và hiện thực chính trị chuyên chính toàn diện của đảng cộng sản, phong trào sinh viên thường xuyên trở thành một khâu trong phong trào chính trị của Đảng, muốn thu lại hay bung ra là tùy ý. Hai đặc trưng nói trên làm cho khi đứng trước các sự kiện kháng nghị quần chúng có tính tự phát, chính quyền Trung Cộng có khuynh hướng tích cực trấn áp.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như Diệm

Nguồn: TĐB – 96 – 15, 16 & 17

Zhao Jianming (Triệu Kiến Minh) là giáo sư, Viện nghiên cứu KHXH & NV Trung Sơn, Đại học Chính trị Quốc gia, Đài Bắc.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s