Cải cách nhiệm vụ giám sát với mục đích chuẩn đoán rủi ro hệ thống hẳn sẽ kéo sự thay đổi đáng kể những thông lệ của IMF và một sự hợp tác chặt chẽ với các cơ quan giám sát và quan sát các thị trường tài chính có trụ sở ở Basel. Nó cũng sẽ buộc IMF phải đi theo con đường mới mẻ là có các tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên với khu vực tài chính tư nhân.

Trên phương diện phương pháp luận, IMF khám phá các mô hình chỉ số tiên tiến để đánh giá tinh bấp bênh của các hệ thống tài chính chứa đựng rủi ro tiềm tàng. Chúng ta có cơ sở để mong đợi những bước tiến trong hai hướng đi. Hướng đi thứ nhất tìm cách đánh giá độ nhạy cảm của các chỉ số khủng hoảng (sự gia tăng bất thình lình của các khoản cho vay không hiệu quả, tỷ giá ngoại hội mạnh và (hoặc) chỉ số rủi ro quốc gia tăng nhiều, giá các tài sản giảm sút nghiêm trọng) với các yếu tố rủi ro cá biệt hay với tổ hợp các yếu tố đó (tỷ lệ nợ nước ngoài tính trên nguồn thu ngoại tệ, tỷ lệ nợ nước ngoài tính trên dự trữ ngoại hối, tỷ lệ tín dụng tính trên thu nhập của các chủ thể phi tài chính, sự sụt giảm chất lượng tín dụng đo bằng sự gia tăng phần thưởng rủi ro đối với các trái phiếu và các sản phẩm tín dụng phái sinh trong những khu vực có đòn bẩy cao).

Hướng đi thứ hai là việc thực hiện các kiểm nghiệm tổng hợp chịu sốc. Cũng rất mới mẻ, hướng đi này có thể dựa vào những kiểm nghiệm riêng lẻ mà các định chế tài chính quốc tế lớn thực hiện. Nhóm các cơ quan giám sát của các định chế này, dưới sự phối hợp của Ủy ban Ổn định tài chính Basle, có thể nêu rõ những kịch bản cần nghiên cứu để sao cho những kiểm nghiệm này được thực hiện một cách nhất quán. Các cơ quan giám sát nhờ đó có thể tổng hợp các kết quả và từ đó rút ra một chỉ số các tài sản quốc tế có rủi ro. Một phiên bản cho hướng đinày là thông qua các cơ quan giám sát quốc gia thu thập các số liệu về mức độ rủi ro của các định chế tài chính riêng lẻ. Những kiểm nghiệm chịu sốc sẽ được thực hiện tại Basle trên những số liệu tổng hợp. Chúng ta biết rằng những kiểm nghiệm trên có nhiều hạn chế lớn. Nó không thể xác định xác suất xảy ra của các kịch bản khác nhau. Nó không thể đưa vào rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng vì không nắm được quan hệ tương liên. Chúng ta sẽ phải chấp nhận chỉ xây dựng các kịch bản dành cho các loại rủi ro khác nhau, rồi lập luận trên cơ sở tác động qua lại nhằm đánh giá nguy cơ lan tỏa giữa các lĩnh vực dễ đổ vỡ.

Mặc dù có những hạn chế, những kiểm nghiệm chịu sốc này là những bước đột phá trong việc chẩn đoán các hiện tượng hệ thống có khả năng chuyển thành khủng hoảng tài chính mở rộng. Đặc biệt nó có thể được sử dụng để đánh giá những hậu quả của các kịch bản đặt ra các cú sốc thanh khoản của thị trường trên cơ sở mức độ rủi ro tổng hợp của các định chế tài chính.

Tuy nhiên, việc tổ chức các kiểm nghiệm chịu số tổng hợp đòi hỏi một sự hợp tác được chuẩn bị chu đáo vốn khác xa với phong cách tự kỷ luôn thấy ở IMF trong các vụ việc tiền tệ quốc tế. IMF cần thừa nhận rằng toàn cầu hóa tài chính kết hợp chặt chẽ các vấn đề tiền tệ với những biến động tài chính. IMF không còn là người duy nhất có phương tiện hành động và nguồn thông tin cần thiết để chỉ đạo một hệ thống quốc tế xử lý khủng hoảng. Đặc biệt, chỉ có các cơ quan giám sát quốc gia mới có quyền yêu cầu các tổ chức tài chính quốc tế sử dụng mô hình nội bộ của họ để nghiên cứu những kịch bản tương tự có các yếu tố rủi ro được các cơ quan giám sát và chính họ xác định. Sự phối kết hợp giữa các cơ quan giám sát được thực hiện tại Basle và Washington. Sự tham gia của IMF vào một hoạt động giám sát mở rộng không phải là không thể thiếu được. IMF thông qua các nhiệm vụ được quy định tại điều IV có những kiến thức đầy đủ nhất về những mất cân đối kinh tế vĩ mô và tài chính của các nước vay nợ. Việc tổng hợp kiến thức của các chủ thể chính trong lĩnh vực tài chính quốc tế về tình hình tài chính và về những yếu tố rủi ro tại các nước vay nợ, nếu nằm torng khuôn khổ các kịch bản chống sốc, có thể giúp mọi người hiểu hơn về các cuộc khủng hoảng thanh khoản. Chức năng của người cho vay quốc tế cuối cùng nhờ đó sẽ có khuôn khổ tốt hơn.

3/ Những tranh luận về việc tổ chức người cho vay quốc tế cuối cùng

Vai trò của IMF là người xử lý khủng hoảng trong những năm 1990 bị chỉ trích ở hai điểm. Thứ nhất, nó không đảm trách được vai trò người cho vay cuối cùng như một ngân hàng trung ương. Cho đến nay, IMF không có khả năng chẩn đoán để phát hiện sớm được các cuộc khủng hoảng. IMF dứt khoát phải được xếp vào phía các chủ nợ với những chương trình tài trợ cực lớn. IMF đã áp đặt các điều kiện phù hợp cho việc theo dõi các chương trình cung cấp tài chính dài hạn hơn là cung cấp tiền mặt khẩn cấp. thứ hai, những khoản cho vay khẩn cấp của IMF mang tính võ đoán và chịu ảnh hưởng của những tính toán mang tính chiến lược của Mỹ hơn là vì quyền lợi của những nước bị rối loạn thị trường tài chính. Hoạt động của IMF không chịu sự kiểm soát của một khuôn khổ pháp lý quốc tế hay chí ít là một thỏa thuận chung của tất cả các nước thành viên. Trái với hai mô hình kinh tế kia về người cho vay cuối cùng đã được trình bày ở trên, mô hình liên quan đến IMF không áp dụng cho các cuộc khủng hoảng thanh khoản thuần túy. Cơ cấu lại về mặt tài chính, trợ cấp cho các tổn thất, các điều khoản tập thể buộc các chủ nợ phải đàm phán cần được đưa vào quá trình xử lý khủng hoảng. Ví trí của IMF như người điều phối các hình thức khác nhau của hành động tập thể sẽ là chính đáng trong khuôn khổ như vậy. Những đề xuất tổ chức chức năng người cho vay cuối cùng đặt trong khuôn khổ đó.

Đề xuất thứ nhất, mà Calomiris là người trình bày chặt chẽ nhất, nhằm xây dựng một trật tự tiền tệ quốc tế. Đề xuất này xuất phát từ sự tiếc nuối chế độ bản vị vàng được lý tưởng hóa. Phương pháp này hướng tới việc xây dựng khuôn khổ thể chế cho hoạt động của người cho vay cuối cùng. Phương pháp này tìm giải pháp trong di sản của Thornton và Beagehot. Các hoạt động can thiệp của IMF trong những năm 1990 đáng bị chỉ trích vì nó quá rời xa khuôn khổ này. Chính vì vậy, theo quan điểm trên, các hoạt động đó không có hiệu quả cao. Để thoát khỏi tình cảnh đó, cần xây dựng các nguyên tắc cẩn trọng nghiêm khắc hỗ trợ cho tính kỷ luật của thị trường. Theo những người ủng hộ quan điểm này, trật tự thị trường được thiết kế tốt sẽ tách bạch việc mất khả thanh khoản và mất khả năng thanh toán. Vì vậy, vẫn có thể tôn trọng sự trừng phạt của thị trường mà không đe dọa đến tính toàn vẹn của hệ thống tài chính. Việc thương lượng điều kiện trợ giúp sẽ bị bãi bỏ. Các nước được hưởng sự trợ giúp của người cho vay cuối cùng IMF phải thỏa mãn trước những tiêu chuẩn chọn lọc nhờ thiết lập được các quy tắc cẩn trọng chặt chẽ. Các quy định này liên quan đến các loại dự trữ, vốn của các tổ chức tài chính, việc phát hành các khoản nợ có điều kiện, việc bảo hiểm tiền gửi, quyền tự do tham gia thị trường của các đơn vị nước ngoài. Các cuộc khủng hoảng thanh khoản thuần túy bùng nổ tại một trong những nước được quyền trợ giúp sẽ nhận được sự trợ giúp của IMF dưới dạng một cửa sổ chiết khấu dành cho các ngân hàng trung ương quốc gia trên cơ sở có đảm bảo và với thời gian không vượt quá ba tháng. Tài sản thế chấp được định giá theo giá trị trước khủng hoảng phải bao gồm các giấy tờ có giá công của nước vay nợ và các giấy tờ có giá quốc tế. Về phần mình, IMF vay ngoại tệ có nhu cầu tại các ngân hàng trung ương phát hành.

Phá vỡ các nguyên tắc phổ biến và bình đẳng với các thành viên của mình, đề xuất cải cách IMF này đặt ra những vấn đề đáng ngại. Nhưng mức độ hiện thực của quan điểm chuẩn tắc này như thế nào? Không có nước nào trên thế giới thỏa mãn được tất cả các điều kiện phải có đã đặt ra trước để hưởng quyền nhận được sự trợ giúp của IMF trong kịch bản này! Sự hậu thuẫn chính trị nào có thể tìm được để thay đổi hoàn toàn Điều lệ của IMF? Chắc chắn là chức năng người cho vay cuối cùng thuộc về thẩm quyền tiền tệ chứ không phải bảo hiểm tương hỗ. Nhưng lịch sử của các hoạt động can thiệp của người cho vay cuối cùng, kể cả thời kỳ bản vị vàng, cho thấy đó là các quyết định tùy nghi và không thể pháp điển hóa được. Không gì có thể thay đổi việc chẩn đoán tình hình và sự mập mờ mang tính xây dựng vốn gắn liền với chức năng người cho vay cuối cùng.

Kênh tín dụng dự phòng (CCL) là một ý tưởng nhằm xác lập một hình thức hạn hẹp hơn của sơ đồ này. Sáng kiến đó đã hoàn toàn thất bại. Không nước nào muốn chấp nhận “hợp đồng với sư tử”, vốn sẽ tước bỏ chủ quyền quốc gia, để chấp nhận một khoản tín dụng mà chưa chắc sẽ được thụ hưởng. Phương thức CCL giống như những đề xuất của Ủy ban Meltzer nếu ta coi chức năng người cho vay cuối cùng của IMF như một mạng lưới CCL. Do phương thức rút vốn, do việc hoàn trả rất ngắn hạn, do cách tài trợ, hệ thống này khác hoàn toàn cơ chế hạn mức và tài trợ có điều kiện cho nhu cầu bù đắp cán cân thanh toán. Về điểm này, dự án cải cách trên thừa nhận cần phải thay đổi mô hình hành động tập thể.

(còn tiếp)

Nguồn: Hội đồng phân tích kinh tế – Khủng hoảng nợ, phòng ngừa và giải pháp – NXB CTQG 2005

Daniel Cohen từ Đại học Sư phạm, CEPREMAP và CEPR (Pháp), Richard Portes từ London Business School, EHESS và CEPR.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s