Năm 1993, nhà khoa học chính trị người Mỹ, Russell Read, chứng minh mối quan hệ giữa định hướng dài hạn và các biện pháp tiết kiệm. Sự liên kết mạnh mẽ nhất mà ông tìm thấy là “thiên hướng tiết kiệm cận biên” (MPS), sự thay đổi trong phần trăm tiết kiệm thực tế bình quân đầu người từ năm 1970 tới 1990 trong phần trăm của tổng số thay đổi tiêu dùng cá nhân cộng với tiết kiệm. MPS dao động từ mức thấp 3% tại Mỹ lên mức cao 64% tại Singapore.

Trong phân tích về hành vi tiêu dùng, de Mooij nhận ra rằng những nước có LTO cao đầu tư nhiều hơn vào bất động sản, tài sản mang ý nghĩa lâu dài, trong khi ngườid ân ở nước có LTO thấp đầu tư nhiều hơn và các quỹ tương hỗ.

Năm 2000, một cuộc khủng hoảng kinh tế lại xảy ra trên thế giới, bắt nguồn từ Mỹ, lây lan tới toàn thị trường tài chính toàn cầu. Thiếu tiết kiệm, chi tiêu quá đà tại các nước có định hướng ngắn hạn, có vẻ như là nguyên nhân của thảm họa mới này.

Giá trị của “tiết kiệm” (cũng như “kiên trì”) đã bị mất trong bản Điều tra giá trị Rokeach, bản điều tra này được cho là dựa trên danh sách các giá trị Mỹ khoảng năm 1970. Chi tiêu, không tiết kiệm ở mức cá nhân và Chính phủ dường như là giá trị Mỹ, ít nhất là cho tới nửa sau của thế kỷ XX. Khi được hỏi tại sao người Mỹ không tiết kiệm, Herbert Stein, nguyên Chủ tịch Hội đồng cố vấn kinh tế của hai đời Tổng thống Mỹ phe Cộng hòa cho biết:

Các nhà kinh tế không thể trả lời được câu hỏi này. Tiết kiệm của chúng tôi luôn thấp hơn các nơi khác. Nó phản ánh lối sống của người Mỹ, mặc dù điều này không có sự giải thích.

Tăng trưởng kinh tế và chính trị

Tiếp sau các điều kiện cho tăng trưởng kinh tế đã được thảo luận trong phần trước, tăng trưởng luôn phụ thuộc vào bối cảnh chính trị. Sự phát triển của những con rồng Đong Á bắt đầu chỉ sau năm 1955, khi mà lần đầu tiên trong lịch sử, một thị trường toàn cầu phát triển. Sự cần thiết của một bối cảnh chính trị xảy ra ở 5 con rồng nhưng với những cách khác nhau, vai trò của chính phủ thay đổi từ hỗ trợ tích cực sang cung cấp giấy thông hành. Công đoàn bị suy yếu và định hướng theo công ty xuất hiện ở cả 5 quốc gia, và việc phân phối thu nhập tương đối bình đẳng, điều mà hỗ trợ người dân khi có những thay đổi trong xã hội không được thực hiện tốt. Sự điều độ của Nho giáo ảnh hưởng tới đời sống chính trị mặc dù đôi khi bùng nổ bất ổn và bạo lực.

Sự ảnh hưởng của bối cảnh chính trị là minh chứng cho Trung Quốc đại lục, đất nước được coi là cái nôi của Nho giáo. Hồng Kong, Singapore và Đài Loan – Trung Quốc hải ngoại – nơi xảy ra phép màu kinh tế đã có những đóng góp cho sự nổi dậy của Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Philippines. Họ dường như có thể sử dụng kỹ năng kinh doanh tốt hơn người Trung Quốc ở đất mẹ.

Năm 1970, đồng tiền Trung Quốc không được chuyển đổi dẫn tới sự đánh giá cao GNI bình quân đầu người năm 1970 và thấp hơn tỷ lệ 2000/1970 thực. Nhưng tăng trưởng kinh tế cũng chịu tác động của các sự kiện chính trị: thảm họa của Đại nhảy vọt (1958 – 1959) và Đại cách mạng văn hóa (1966 – 76) và phản ứng dữ dội sau việc đàn áp mạnh mẽ các cuộc biểu tình của sinh viên tại quảng trường Thiên An Môn tại Bắc Kinh năm 1989. Mặt khác, sự kiểm soát chính trị chặt chẽ, bởi chính sách gia đình một con, ngăn chặn dân số bùng nổ mà có thể pha loãng mức tăng trưởng bình quân đầu người. Từ năm 1975 tới 2007, dân số Trung Quốc tăng từ 42% từ 0,93 tới 1,32 tỷ, trung bình tăng 1,3% mỗi năm. Dự đoán cho giai đoạn từ 2015 là 0,7% mỗi năm. Với sự kiểm soát dân số ít hiệu quả, dân số của Ấn Độ cùng kỳ tăng 81% từ 0,62% tới 1,12 tỷ, trung bình mỗi năm tăng 1,9%. Nếu không có bất cứ sự kiểm soát dân số nào, dân số của Nigeria tăng 169% từ 55 tới 148 triệu, trung bình là 2,9% mỗi năm.

Nhà cầm quyền tại Trung Quốc phải đối mặt với hậu quả chính trị trong nước do kinh tế mở với phần còn lại của thế giới. Một quốc gia với 1,3 tỷ người phải làm thế nào để không rơi vào chế độ chuyên quyền, tình trạng hỗn loạn, phá hủy môi trường nghiêm trọng khó khăn hơn nhiều so với hiện đại hóa một hòn đảo với 5 triệu dân như Singapore. Trong bài báo năm 1988 phân tích các tác động của Điều tra giá trị Trung Quốc, khi Trung Quốc vẫn còn nghèo khó, Geert giải thích điểm cao nhất trên cái mà ông gọi là LTO rằng “…Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ theo sau sự thành công của 8 con rồng và thậm chí sẽ trở thành con rồng thứ sáu – mạnh mẽ nhất – con rồng của tất cả các con rồng khác”. Lịch sử đã chứng minh lời tiên tri này là chính xác.

Ví dụ ngược lại là vào năm 1980, Liên Xô và nền chính trị của nước này ảnh hưởng tới toàn cầu, làm gián đoạn việc chủ động ở mọi nơi mà theo như điểm của LTO – WVS – tư tưởng cho sự phát triển là hiện tại. Sự tăng trưởng kinh tế thần tốc ở một số nước Đông Âu từ cuối thời kỳ Xô viết đã chứng minh điều này.

Sự phát triển của khu vực Đông Á đạt được hôm nay là bởi mong muốn học hỏi từ các nước khác. Nhật Bản tích cực nghiên cứu khoa học công nghệ của châu Âu (đặc biệt là Hà Lan) từ thế kỷ XVII. Thời trang phương Tây phổ biến ở Đông Á bất chấp chính phủ tỏ ý không hài lòng. Các nước Đông Âu mặc dù là cộng sản nhưng luôn thực hiện theo mô hình phương Tây.

Mong muốn học hỏi từ người khác bị cho là không cần thiết tại các nước có điểm LTO – WVS thấp. Niềm tự hào quốc gia là một thành phần của định hướng ngắn hạn, và việc quá tự hào là nguyên nhân cho thảm họa kinh tế. Tại Hoa Kỳ, nó góp phần quyết định để bắt đầu cuộc chiến ở Iraq với chi phí một nghìn tỷ USD. Nó củng cố cho sự thiếu quan tâm và hiểu các nước khác của Mỹ, điều này đóng vai trò chính trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008.

Tin tưởng tuyệt đối và kinh thánh là định hướng ngắn hạn

Như đã thảo luận, đạo Do Thái, Thiên Chúa và đạo Hồi là ba tôn giáo của phương Tây, thuộc cùng một gốc. Tất cả ba tôn giáo đều rút ra Đạo đức từ Chân lý. Cả ba đều có những nhánh hiện đại, tập trung vào hiện tại và những nhánh tin tưởng hoàn toàn vào Kinh thánh, đề cao sự thông thái từ quá khứ. Tin vào tôn giáo thể hiện cho cực ngắn hạn của chiều dài hạn, điều đối nghịch với chiều ngắn hạn. Các quyết định không dựa trên việc làm ngày nay nhưng dựa trên giải thích về những gì đã được viết trong Kinh Cựu Ước (phần 1 của Kinh Thánh). Tin vào tôn giáo là không thể đối mặt với những vấn đề của cuộc sống hiện đại. Nhà triết học người Anh Bertrand Russel (1872 – 1970) viết:

Tất cả tín ngưỡng quá cuồng tín sẽ gây hại. Điều này là hiển nhiên khi chúng phải so sánh với các tín ngưỡng khác trong trường hợp họ đẩy mạnh hận thù và xung đột. Nhưng nó cũng đúng ngay cả khi chỉ có một tín đồ tôn giáo trong lĩnh vực này. Nó phải chống lại sự tiến bộ của nhân loại. Nếu nó liên quan đến một thầy tu, thì nó đã mang lại một sức mạnh tuyệt vời tới một nhân vật sẽ cống hiến cho việc duy trì tình trạng trì trệ và không thay đổi được mà trong thực tế không có sự chắc chắn này”.

Chính trị có ảnh hưởng đến tín ngưỡng, điều mà đại diện cho mối đe dọa đối với hòa bình thế giới và sự thịnh vượng tồn tại trong tất cả ba tôn giáo phương Tây. Các nhánh hiện đại của Hồi giáo có ảnh hưởng yếu nhất so với các nhánh hiện đại của các tôn giáo khác. Có một thời kỳ trong lịch sử, từ khoảng thế kỷ thứ IX tới XIV sau Công nguyên, khi thế giới Hồi giáo phát triển không chỉ quân sự mà cả khoa học tiên tiến trong khi Thiên Chúa giáo châu Âu vẫn còn lạc hậu. Với thời kỳ Phục hưng và Cải cách, các nước Thiên Chúa giáo đã bước vào con đường hiện đại hóa trong khi thế giới Hồi giáo lại rút lui vào truyền thống.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s