Nhìn khái quát mấy lần hoạt động chống đối kiểu lật đổ trước đây, ta thấy có mấy lý do làm cho hoạt động đó không kéo dài về mặt thời gian:

Thứ nhất, đối với phong trào chống đối chính trị kiểu lật đổ có mục đích chính trị do trong Đảng thao túng thì tính chất lật đổ có tính cục bộ, bởi vậy khi mục tiêu ban đầu của nó đã đạt được, khi cuộc đấu tranh trong đảng thắng thua đã định thì đương nhiên không còn lý do để nó kéo dài. Phong trào “bức tường dân chủ” bắt đầu cuối năm 1978 đã tác động rất lớn về mặt tự tưởng tới “hai cái phàm là”, cơ sở của cách mạng văn hóa và quyền lực của chính quyền Hoa Quốc Phong, làm cho Hội nghị toàn thể III BCH TW khóa 11 đạt được mục tiêu cơ bản của nó là giải phóng tư tưởng, kế thúc sự thống trị chuyên chế của Mao Trạch Đông và thực hiện dân chủ hóa trong Đảng. Thứ hiệu ứng kiểu khai sáng này kéo dài tới Hội nghị Vụ Hư về công tác lý luận mở tháng 1/1979. Mục đích của hội nghị là cung cấp cơ sở lý luận cho tiến trình dân chủ và giải phóng tư tưởng của Hội nghị toàn thể III BCH TW khóa 11 ĐCS Trung Quốc. Nhưng cuộc luận chiến về tiêu chuẩn chân lý đã kết thúc, Hoa Quốc Phong mất quyền chủ đạo về hệ tư tưởng, mục đích phối hợp dân chủ ngoài đảng với đoạt quyền trong đảng đã đạt được. Tới giai đoạn 2 của Hội nghị Vụ Hư về lý luận tháng 3/1979 Đặng Tiểu Bình công bố “Kiên trì 4 nguyên tắc cơ bản” mà Hồ Kiều Mộc khởi thảo cho ông ta, chỉ trích những phần tử hăng hái trong “bức tường dân chủ” là “kết hợp với các lực lượng chính trị Đài Loan và nước ngoài”, cần căn cứ vào pháp luật để “tiến hành xử lý nghiêm khắc những phần tử phản cách mạng, những phần tử xấu này”.

Thứ hai, sự công kích ĐCS và người lãnh đạo tối cao thường là nguyên nhân trực tiếp nhất thúc đẩy Trung Cộng ra mặt ngăn chặn phong trào dân chủ. Việc phong trào chỉnh phong của Trung Cộng chuyển thành đấu tranh chống phái hữu năm 1957 là chứng cứ tốt nhất. Trong thời gian diễn ra phong trào bức tường dân chủ cuối năm 1978, một số người như Wei Jingsheng (Ngụy Kinh Sinh) cho rằng chủ nghĩa Marx – Lenin tất yếu dẫn đến chuyên chế cá nhân. Trong  bài Cần dân chủ hay là cần sự độc tài mới, Ngụy Kinh Sinh nghi ngờ sự kiên trì của Đặng Tiểu Bình đối với dân chủ, ông cho rằng cái mà ông ta bảo vệ hoàn toàn không phải là lợi ích của nhân dân, và cảnh báo nhân dân Đại lục cần hết sức đề phòng Đặng Tiểu Bình thoái hóa thành nhà độc tài. Kết quả chứng minh phản ứng của Đặng Tiểu Bình hoàn toàn không khác của Mao Trạch Đông: ông ta đã đóng chặt “bức tường dân chủ”. Tháng 2/1989 Phương Lệ Chi công khai phê phán chế độ XHCN là nhân tố chủ yếu tạo ra thất bại của cộng sản trong 40 năm thống trị, công kích rằng việc trấn áp phong trào bức tường dân chủ do Đặng Tiểu Bình ra lệnh là chứng cứ cho thấy Trung Cộng hoàn toàn không sẵn sàng tiến hành cải cách thể chế chính trị, coi “Bốn nguyên tắc cơ bản” do Đặng Tiểu Bình nêu ra là một đồng một cốt với “sáu tiêu chuẩn chính trị” tiếng xấu vang lừng của Mao Trạch Đông đề ra. Ngoài ra báo chữ to do sinh viên Đại học Nam Kinh và Đại học Bắc Kinh dán, phê phán ĐCS “độc đoán chuyên quyền”, “trấn áp kiểu phát xít” đều trực tiếp hay gián tiếp công kích việc Trung Cộng coi phong trào sinh viên là “phản cách mạng”.

Nhân tố thứ ba làm cho Trung Cộng trấn áp phong trào dân chủ kiểu lật đổ là sự ngóc đầu dậy của các lực lượng bảo thủ trong đảng. Hội nghị toàn thể III BCH TW khóa 11 phê phán hai cái “phàm là”, Uông Đông Hưng mất quyền lãnh đạo đối với ngành lý luận và tuyên truyền, Hồ Diệu Bang nhậm chức Tổng Bí thư Trung ương kiểm Trưởng ban Tuyên huấn trung ương, Hồ Kiều Mộc nhậm chức Phó Tổng Bí thư Trung ương kiêm Chủ nhiệm văn phòng trước tác Mao Trạch Đông, phụ trách công tác lý luận. Do trong cuộc chiến tranh giữa Trung Cộng và Việt Cộng tháng 2/1979 Trung Cộng biểu hiện không được như mong đợi, “bức tường dân chủ” bắt đầu có người phê phán Đặng Tiểu Bình; Hồ Kiều Mộc và Đặng Lục Quần chú trọng tuyên truyền rằng so với trước cuộc đấu tranh chống phái hữu năm 1957 thì tình hình còn nghiêm trọng hơn, và xúi bẩy Đặng Tiểu Bình chống phái Hữu. Hạ tuần tháng 3, Đặng Tiểu Bình thay đổi bài nói tán thành dân chủ của ông tại Hội nghị Vụ Hư về lý luận giai đoạn 1, công bố “Bốn nguyên tắc cơ bản” với lời lẽ gay gắt. Tháng 8/1980 Đặng Tiểu Bình đưa ra phương án cải cách chính trị, nhưng tại Hội nghị Công tác Trung ương mở tháng 12, phái Trần Vân đã có sự bố trí về chính trị và tổ chức, làm cho Đặng Tiểu Bình tiếp nhận việc “chống tự do hóa của giai cấp tư sản”, thừa nhận cuộc đấu tranh chống phái hữu năm 1957 là thực sự cần thiết, đề nghị chế định luật xuất bản để xử lý các ấn phẩm bí mật. Cải cách thể chế chính trị không bệnh mà chết.

Thất bại của cải cách của Hồ Diệu Bang cũng tương tự. Tháng 9 năm 1985 Trung cộng mở Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc , đề án kết cấu thê đội cán bộ của Hồ Diệu Bang được ủng hộ, những người lãnh đạo tương đó trẻ thuộc thê đội thứ ba tiến vào đơn vị quyết sách, trong số 348 ủy viên và ủy viên dự khuyết trung ương có 64 người mới. Tại Hội nghị công tác Bắc Đới Hà vào tháng 7, Hồ Diệu Bang khẩn thiết đề nghị Đặng Tiểu Bình đi đầu thoái hưu để làm gương. Nhưng các cán bộ già đứng đầu là Bành Chân yêu cầu Đặng Tiểu Bình tiếp tục cầm quyền, kiên quyết chủ trương thanh trừ ô nhiễm tinh thần.

Tại Hội nghị toàn thể VI BCH TW khóa 12 họp vào tháng 9, Bành Chân, Bạc Nhất Ba, Vương Trấn phát ngôn gay gắt, Đặng Tiểu Bình ủng hộ ghi việc “chống tự do hóa của giai cấp tư sản” và dự thảo nghị quyết về “Phương châm chỉ đạo việc xây dựng văn minh tinh thần”. Tháng 1/1987, Đặng Tiểu Bình kết hợp với phái bảo thủ gồm Trần Vân, Bành Chân, Bạc Nhất Ba và lực lượng quân sự gồm Dương Thượng Côn, Vương Trấn buộc Hồ Diệu Bang rút khỏi vũ đài. Sau Đại hội 13, Triệu Tử Dương giữ chức Tổng Bí thư, nhưng ông ta vừa không còn quyền quyết sách kinh tế khi còn giữ chức Thủ tướng, cũng không có quyền về nhân sự mà một Tổng Bí thư cần có. Những việc bố trí nhân sự quan trọng đều do nhóm nhân sự gồm Trần Vân và 8 người già quyết định. Việc “xông vào cửa vật giá” quyết định trong năm 1978, Lý Bằng và Diệu Y Lâm tỏ ý tán thành nền kinh tế kế hoạch do Trần Vân đóng vai trò chính. Về nguyên nhân làm cho vật giá tăng lên, họ có cách nhìn nhận khác với Triệu Tử Dương. Đến cuối năm 88, hoàn cảnh của phái cải cách đã mười phần nguy cấp, số lớn các túi khôn của Triệu Tử Dương đã ra nước ngoài. Năm 89 phong trào sinh viên bùng nổ, kết quả của phong trào đã không khó dự kiến.

Lý do thứ tư khiến Trung Quốc tiến hành trấn áp phong trào chống đối kiểu lật đổ là sự tác động của môi trường bên ngoài, đặc biệt là khi tại các nước cộng sản khác diễn ra các sự kiện kháng nghị quy mô lớn của quần chúng, chính quyền cộng sản có nguy cơ bị lật đổ, dưới sự tác động của ý thức về khủng hoảng, trước phong trào quần chúng có tính tự phát, Trung Công vì vậy mà có những hành động phi lý tính.

Tháng 9/1956 Trung Cộng cử hành Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 8, lúc ấy Trung Cộng đã nhận định rằng công cuộc cải tạo XHCN về cơ bản đã hoàn thành, Trung Quốc Đại lục bước vào thời kỳ xây dựng CNXH, trọng tâm công tác của toàn Đảng chuyển sang xây dựng kinh tế. Do vào năm 1955 trong ĐCS Trung Quốc diễn ra tranh luận về vấn đề tốc độ hợp tác hóa nông nghiệp, Mao Trạch Đông phê phán những người chủ trương tiến từ từ là “đàn bà chân nhỏ”, vì vậy tại Đại hội 8 Mao quyết định tiến hành chỉnh phong đối với chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa quan liêu và chủ nghĩa tông phái. Đúng lúc này tháng 6 ở Poznan của Ba Lan xảy ra bãi công và thị uy, tháng 10, Budapesh của Hungary cũng xảy ra lộn xộn tương tự. Điều này có tác dụng thúc đẩy việc thanh tẩy trong ĐCS Trung Quốc. Phong trào nào vốn mang tính chất chỉnh phong, sau chuyển hóa ác tính thành đấu tranh chống phái hữu. Từ lần tái xuất thứ 3 trở đi, Đặng Tiểu Bình không ngừng nhấn mạnh giải phóng tư tưởng, cho rằng cải cách XHCN cần bắt đầu từ mặt chế độ. Bài nói của ông tại Hội nghị toàn thể III BCH TW khóa 11 năm 1978 và bài Cải cách chế độ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước công bố tháng 8 năm 1980 là ý kiến tiêu biểu của ông về mặt giải phóng tư tưởng và cải cách chế độ. Nhưng đến mùa đông 1990, ở Ba Lan diễn ra sự kiện Công đoàn Đoàn kết, làm cho tư tưởng cải cách chính trị của ông, cũng giống như Mao Trạch Đông năm 1957, có biến đổi quan trọng, từ chủ trương dân chủ chuyển thành trấn áp dân chủ.

Thứ năm, khi các lực lượng nước ngoài chen vào hoặc khi những người tham gia các lực lượng chống đối kiểu lật đổ du nhập hệ tư tưởng của phương Tây làm phương tiện để phủ định hoặc uốn nắn những tệ lậu của CNXH, thì với sự cân nhắc có tính dân tộc chủ nghãi, Trung Cộng thường dễ áp dụng những biện pháp quyết đoán bất lợi cho sự phát triển của phong trào này.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như Diệm

Nguồn: TĐB – 96 – 15, 16 & 17

Zhao Jianming (Triệu Kiến Minh) là giáo sư, Viện nghiên cứu KHXH & NV Trung Sơn, Đại học Chính trị Quốc gia, Đài Bắc.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s