Cuối năm 1978, ở Trung Quốc Đại lục xuất hiện nhiều báo chí tư nhân, riêng Bắc Kinh đã có 55 loại, 26 thành phố khác của Đại lục đã xuất bản 127 loại. “Nhà khai sáng” thấy Trung Cộng vừa thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ đã viết một bài báo chữ lớn Gửi Tổng thống Carter, nói lên tầm quan trọng của nhân quyền, dân chủ và pháp chế đối với nhân dân Trung Quốc. Trung tuần tháng Giêng 1979 thị ủy Bắc Kinh chỉ trích rằng có người lập tổ chức bí mật, xuất bản báo chí bí mật, liên hệ với nước ngoài, làm như vậy là “để mất quốc thể”, là “có bàn tay kẻ thù chọc vào”. Ngày 18 tháng 1 Trung Cộng bắt nữ thanh niên Fu Yehoa (Phó Nguyệt Hoa), người tổ chức du hành thị ủy “chống đói, chống bức hại”, “đòi dân chủ, đòi nhân quyền”, làm cho các nhà báo nước ngoài và tổ chức nhân quyền nước ngoài quan tâm. Những bối cảnh này làm cho tại Hội nghị Vụ Hư về lý luận tháng Ba 1979 Đặng Tiểu Bình công khai nêu ra rằng không thể cho phép thứ tự do ngôn luận “quan tâm đến quyền con người của Trung Quốc” mà Tổng thống Mỹ yêu cầu, rồi ông ta phê phán các nhân sĩ thuộc “bức tường dân chủ” “một mặt thì móc nối trên phạm vi toàn quốc, một mặt thì câu kết với các lực lượng chính trị Đài Loan và nước ngoài”. Bức tường dân chủ lập tức bị đóng lại.

Hành động thị uy kháng nghị của sinh viên nổ ra ở các thành phố lớn cuối năm 1986, đòi dân chủ, tự do, nhân quyền, tự do báo chí bị Trung Cộng coi là quan niệm của giai cấp tư sản phương Tây. Sinh viên Đại học Khoa học – kỹ thuật An Huy đòi cải cách chế độ tuyển cử của Trung Cộng, Phó hiệu trưởng Phương Lệ Chi khi diễn thuyết đã bác bỏ cách lập luận vô căn cứ của Phó Ủy viên trưởng Ủy ban thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân của Trung Cộng Zhou Gucheng (Chu Cốc Thành) rằng kết quả tuyển cửa Đại hội đại biểu nhân dân 3000/0 còn dân chủ nhiều hơn so với thứ kết quả tuyển cử 51/49 của các nước TBCN như Mỹ…. Điều quan trọng hơn là việc phản đố sự thịnh hành tư tưởng chính trị TBCN nổi lên trong ĐCS Trung Quốc vào những năm 80. Khẩu hiệu “chấn hưng tư tưởng vô sản, tiêu diệt tư tưởng tư sản” nêu ra từ mùa xuân 1980, “thanh trừng ô nhiễm tinh thần” đề ra tại Hội nghị toàn thể II BCH TW khóa 12 ĐCS Trung Quốc năm 1983, “Nghị quyết về phương châm chỉ đạo việc xây dựng nền văn minh tinh thần” nêu ra tại Hội nghị toàn thể VI BCH TW khóa 12 năm 1986, và “chống tự do hóa của giai cấp tư sản” đã được đề ra trong cùng dòng mạch ấy. Chẳng trách tại Hội nghị, Đặng Tiểu Bình đã phải dùng lời lẽ nghiêm khắc khắt khe: “Về chống tự do hóa của giai cấp tư sản, tôi đã nói rất nhiều,… ngày nay trong lớp người trẻ tuổi, có một trào lưu tư tưởng, trào lưu tư tưởng này là tự do hóa. Thứ hai, còn có một số người, đứng bên ngoài đánh trống cổ vũ, như một số luận điệu ở Hương Cảng, Đài Loan, đều phản đối 4 nguyên tắc cơ bản của chúng ta, cho rằng chúng ta cần du nhập một loạt thiết chế của CNTB, làm như có như vậy mới là thực sự tiến hành hiện đại hóa.

Phong trào dân chủ năm 1989 thì không cần nói, không những trong những yêu sách và tinh thần của phong trào sinh viên có rất nhiều thứ là nhặt nhạnh trong các lý luận và quan điểm kiểu phương Tây, mà mối liên hệ giữa thế giới bên ngoài và phong trào sinh viên vô cùng mật thiết, nước ngoài ủng hộ không ngớt, chi viện về vật chất và tinh thần cho các tổ chức khác tham gia phong trào dân chủ, cuối cùng sau khi tiếng súng đã vang lên thì che chở cho các nhân sĩ thuộc phong trào dân chủ, thậm chí giúp họ chạy khỏi Đại lục. Ngày 5 tháng 6 khi công bố “chân tướng của sự thực”, thị ủy Bắc Kinh nhiều lần đề cập đến việc “câu kết với các lực lượng thù địch ở hải ngoại, ở nước ngoài”, “lợi dụng vốn và các nguồn vật chất do các lực lượng chính trị phản động hải ngoại viện trợ”. Trong “Bài nói khi tiếp các cán bộ lực lượng giới nghiêm thủ đô từ cấp quân đoàn trở lên”, Đặng Tiểu Bình đã chỉ trích “một đám nhỏ những kẻ xấu… mục đích của họ là dựng nên một nước cộng hòa của giai cấp tư sản hoàn toàn phụ thuộc vào phương Tây”. Có thể thấy rõ sự kích thích của các lực lượng bên ngoài đối với Trung Cộng.

Từ đó có thể thấy, khi xử lý các sự kiện chống đối kiểu thị uy kháng nghị quần chúng, Trung Cộng luôn định tính đó là “phản cách mạng”. Thái độ cứng rắn của Trung Cộng đối với “Mùa xuân Bắc Kinh” năm 1979 và sự kiện Thiên An Môn năm 1989 là phản ứng của tâm thái đó. Bởi vậy, xét từ giác độ của Trung Cộng, hai sự kiện thị uy này đáng được gọi là những vụ “chống đối kiểu lật đổ” điển hình, kết quả của chúng tất nhiên là trấn áp tàn khóc và đấu tranh bằng bất cứ giá nào không chút thỏa hiệp. Sự “chống đối theo ngành” cũng do hệ tư tưởng và sự hình thành của “chống đối phe phái” mà nổi bật lên. Chẳng hạn như từ những năm 80 trở đi, Ban tuyên huấn Trung Cộng luôn bị phái bảo thủ nắm, có lúc nó tác động kiềm chế các chính sách do phái cải cách đề ra, làm cho tần số “chống đối các chính sách cá biệt” tăng lên. “Chống đối phe phái” có thể nói là động lực chủ yếu gây ra phong trào sinh viên hay phong trào dân chủ quy mô lớn ở Đại lục, còn “chống đối các chính sách cá biệt” và “chống đối theo ngành” liên quan với nó thì có tác dụng trợ lực thêm vào.

So sánh ra thì “chống đối kiểu lật đổ” là nhân tố chủ yếu khiến chính quyền Trung Cộng áp chế các hoạt động thị uy quy mô lớn, còn xác định như thế nào là “lật đổ” thì ngoài những hành vi “phản cách mạng” truyền thống như chống lại sự lãnh đạo của ĐCS, chống lại CNXH…, sự can thiệp của các lực lượng nước ngoài thường xuyên được coi là “sự lật đổ có chủ ý” đối với Trung Cộng. Vì “chống đối phe phái” diễn ra do bất đồng phe phái hay “chống đối các chính sách cá biệt” hoặc “chống đối theo ngành” có liên quan với nó ở Trung Quốc Đại lục phần lớn vẫn là chống đối trong thể chế nên có chính quyền Trung Cộng phản ứng tương đối ôn hòa, nhưngg xét 4 sự kiện thị uy quy mô lớn mà bài này trình bày thì “chống đối phe phái”, một cách không có ngoại lệ, sẽ không ngừng tích lũy động lực chống đối, cuối cùng làm bùng nổ phong trào chống đối quy mô lớn mà giới quan phương Trung Cộng gọi là “theo kiểu lật đổ”.

V/ Kết luận

Từ sau khi Phương Lệ Chi gửi thư cho Đặng Tiểu Bình đầu năm 1989 đòi thả Ngụy Kinh Sinh, giới trí thức Trung Quốc Đại lục đòi hỏi mạnh mẽ phải thay đổi hiện trạng, liên danh công bố thư ngỏ, không ngừng đòi hỏi Trung Cộng tôn trọng nhân quyền, thả chính trị phạm. Trải qua một thời kỳ tiềm phục hơn 5 năm, năm 1995, hành động liên danh lại tuyên bố xuất hiện. Trong vòng 2 – 3 tháng, không ngừng diễn ra các hoạt động cùng ký tên nêu yêu sách đòi đại hội đại biểu nhân dân lập ủy ban chống tham nhũng, bảo đảm nhân quyền, troa cho công dân quyền tự do hội họp, lập hội, ngôn luận, kết thúc chuyên chính một đảng, phế bỏ các trại cải tạo giáo dục, phản đối giam giữ người phi pháp, yêu cầu Triệu Tử Dương tái xuất… Đến đầu tháng 6, lại có thư đòi rút ra bài học, đẩy tới tiến trình dân chủ và pháp trị. Có thể dự kiến, trong tương lai bộ mặt chính trị của Trung Quốc Đại lục sẽ hoàn toàn khác: quyền uy chính trị giảm thấp, liên kết xã hội yếu đi, mong muốn biến đổi sẽ ngày càng tích chất.

Trước hết, dưới tác động của làn sóng thương nghiệp và kinh tế thị trường, hệ tư tưởng mà trước đây Trung Quốc Đại lục dựa vào để tồn tại và các cơ chế kiểm soát tổ chức nghiêm ngặt, như chế độ tổ chức đơn vị và chế độ hộ khẩu, đã hoàn toàn tan rã. Vấn đề của Trung Quốc Đại lục hiện nay hoàn toàn không phải ở khủng hoảng niềm tin mà ở chỗ mất lực lượng liên kết. Dù là phác đồ chính trị tương lai do Mao Trạch Đông tô vẽ nên trước kia là ý tưởng hay trống rỗng bao nhiêu, dù là các biện pháp của nó hợp lý hay không hợp lý, nhưng dù sao lòng người ở Đại lục rộng lớn vẫn có chỗ nương gửi, cảm giác về phương hướng và mục tiêu của xã hội vẫn rành mạch có thể biện biệt được. Nhưng giờ đây thứ cảm giác về phương hướng này đã không còn tồn tại nữa. Trong tương lai có thể dự kiến được, luật rừng tất sẽ thay thế, trở thành lực lượng chế ước chủ yếu ở Trung Quốc Đại lục. Sự mất đi chức năng quy phạm của hệ tư tưởng vốn có sẽ trở thành ngọn nguồn chủ yếu của xung đột chính trị, chức năng của hệ tư tưởng tương lai sẽ là sự phá hoại tiêu cực, khó lòng có lại được ý nghĩa xây dựng và liên kết tích cực.

Sự tan rã tổ chức ĐCS và sự sa sút về luân lý của đảng viên Cộng sản là nguyên nhân chủ yếu làm cho chức năng liên kết xã hội ở Trung Quốc Đại lục yếu đi.

Có mối liên hệ nhân quả với việc lực lượng liên kết xã hội yếu đi, và cũng có thể là biến số cuối cùng kết thúc sự thống trị của cộng sản, là sự xuất hiện toàn diện và rộng khắp của nạn tham nhũng và thứ chính trị kim quyền. Sự kiện Thủ Cương và vụ tự sát của Phó Thị trưởng thành phố Bắc Kinh Wang Baolin (Vương Bảo Lâm) thực sự là một góc của núi băng. Ý nghĩa mà nó thể hiện ra là: nền chính trị của Trung Cộng đã hoàn toàn thỏa hiệp với quyền lực đồng tiền. Biện pháp đối phó cần thiết mà Trung Cộng phải lập tức áp dụng là tăng cường toàn diện chế độ giám sát, làm cho nó thoát khỏi tình trạng sự lãnh đạo của Đảng tự thành một hệ thống khép kín, hoàn thiện các pháp luật liên quan. Nhưng tại Hội nghị toàn thể IV BCH TW khóa 14 tháng Chín 1994, Trung Cộng vẫn lấy biện pháp truyền thống “tăng cường xây dựng Đảng” làm vũ khí chủ yếu chống tham nhũng. Có thể dự đoán là nó khó có thể thành công. Sự kiện này chứng tỏ hệ thống chính trị Trung Cộng hiện nay gần như hoàn toàn mất năng lực phản ứng, hệ thống quyết sách chết cứng lâu nay không còn có bất kỳ hiệu quả phản hồi nào nữa.

Được rèn luyện lâu ngày trong phong trào chính trị quá khứ, về mặt tổ chức phong trào chống đối, nhân dân Đại lục có điều kiện lịch sử khá lớn. Kỹ năng tổ chức và tuyên truyền được sử dụng trong hai lần phong trào học sinh vào cuối năm 1986 và 1989 đã gây rất nhiều cộng hưởng. Điều này là do văn hóa của phong trào chính trị Trung Cộng ban cho, mai đây sự tái xuất hiện các hoạt động kháng nghị thị uy với quy mô lớn, đến năm 1980 lại xảy ra một lần nữa, so với lần trước thì lần này càng rầm rộ hơn, có tổ chức hơn, Cộng sản Ba Lan cũng tiến hành một số điều chỉnh, nhưng thời thế đã không ủng hộ, chính quyền cuối cùng cũng đổi chủ. Thủ pháp của Trung Cộng trong việc xử lý phong trào chống đối kiểu lật đổ không hề cao minh hơn cộng sản Ba Lan. Nếu Trung Cộng không ra sức tìm cách biến cách về mặt chế độ thì tương lai của nó cũng đã có thể dự kiến được.

Người dịch: Nguyễn Như Diệm

Nguồn: TĐB – 96 – 15, 16 & 17

Zhao Jianming (Triệu Kiến Minh) là giáo sư, Viện nghiên cứu KHXH & NV Trung Sơn, Đại học Chính trị Quốc gia, Đài Bắc

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s