Dù thế nào chăng nữa, rõ ràng rằng văn hóa người là sản phẩm của sự phát triển tiến hóa các bản năng hành vi xã hội của các loài động vật sống theo bầy đàn và giống với tổ tiên loài mình hệt như con người giống như động vật (khỉ dạng người) nói chung. Như ta biết, sự khác biệt về di truyền giữa người và linh trưởng là khoảng từ 1 đến 2%. Nhưng sự khác biệt không đáng kể này lại có hiệu ứng chất lượng cực kỳ to lớn, được quyết định bởi sự phát triển và các khả năng của bộ não người. Cũng có thể nói đại khái như vậy về những khác biệt giữa hành vi xã hội của động vật và văn hóa của con người. Xét về các hệ đặc trưng chức năng và thủ pháp cơ bản thì hành vi tương tự của động vật không khác lắm so với văn hóa của con người. Trong hành vi đó của động vật cũng có:

+ Sự tương tác (mà đôi khi cũng khá phức tạp), trợ giúp và ủng hộ nhau;

+ Sự phân công chức năng khi hành động tập thể (ví dụ, khi đi kiếm ăn, đào hang xây tổ, phòng vệ, cũng như có sự phân chia hình thức hoạt động theo tuổi tác và giới tính);

+ Cải tạo vùng lãnh thổ sinh sống (lợp nhà xây tổ, làm đường…);

+ Có bất bình đẳng xã hội (có con đầu đàn, thành viên bình thường, những cá thể bị ruồng bỏ…) và nghi thức nội bộ, kiêng kỵ theo độ tuổi và chế độ đối với bậc cao niên;

+ Dạy kỹ năng cho con non;

+ Các trò chơi (hôn nhân, học tập, giải trí);

+ Có những quy tắc nhất định áp dụng cho quan hệ hôn nhân và phân chia phần mồi săn kiếm được;

+ Sự trao đổi thông tin – âm thanh, hình ảnh (dáng thế, cử chỉ chân tay, nét mặt), khứu giác (nhận biết mùi) khá tinh tế.

Loài linh trưởng cũng vốn có những cách biểu hiện khác thường như sử dụng có lựa chọn theo tình huống các công cụ khác nhau (đá, cành cây, gậy…) và thậm chí có cả thái độ côn đồ (những động tác vui đùa có thể gây tác hại; và một số vật nuôi trong nhà (mèo, chó) cũng vốn có những bản năng tương tự).

Sự khác biệt cơ bản nằm ở chỗ động vật thực hiện hoạt động sống của mình nói chung là dựa trên cơ sở một chương trình bản năng bền vững và chúng không có khả năng thay đổi nhanh các mẫu hành vi của mình. Sự thay đổi đó chỉ có được khi có sự tích lũy kinh nghiệm tương ứng (ví dụ, trong quá trình huấn luyện). Còn con người thì có ý thức và về nguyên tắc có thể phản ứng một cách tức thời và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với tình huống thực tế: có thể luyện kỹ năng rất dễ dàng. Đó là cái quyết định điểm khác biệt cơ bản có tính nguyên tắc giữa hành vi xã hội của động vật với hành vi xã hội của con người, cái được gọi là văn hóa. Nhưng văn hóa xét về chức năng xã hội cơ bản của nó – đó chính là hành vi xã hội có tính quy phạm của con người, về thực chất thì tương tự như hành vi xã hội của động vật sống theo bầy đàn và chỉ hơn động vật về chất.

Ưu thế vượt trội về chất nói trên đã được tích lũy trong các hành vi xã hội của người vượn diễn ra rất chậm, dần từng bước trong hơn 2 – 3 triệu năm và về cơ bản tương ứng với các giai đoạn tiến hóa về mặt sinh học của con người. Ở đây có thể được khẳng định rằng không thể nói về “ngày khai sinh ra văn hóa” cũng như coi đó là một sự kiện tức thời, hay như là một quá trình dài, có điểm khởi đầu và điểm kết thúc. Nguồn gốc của văn hóa khởi phát từ các hình thức đơn giản nhất của đời sống sinh học tập nhóm trên Trái Đất và là một giai đoạn xác định trong lịch sử tiến hóa của các hình thức đó. Điểm khởi đầu của nó là sự xuất hiện của hình thức tồn tại tập nhóm của các hệ thống sinh học, mà sự xuất hiện của hình thức này tạm thời vẫn đang là đối tượng của các giả thuyết.

Trong suốt lịch sử của mình, văn hóa đã trải qua một lộ trình phát triển rất phức tạp, khi phân tích lộ trình này có thể nhấn mạnh và miêu tả một số quy luật thông thường, mà theo tôi có thể xem đó là những tính quy luật lịch sử tiến hóa của văn hóa.

Như ta biết, trạng thái của các cộng đồng (dân tộc) văn hóa xã hội địa phương không phải là thường hằng, bất biến về mặt lịch sử. Theo thời gian, nhiều thông số của trạng thái đó biến đổi, điều đó được ghi nhận xét trên toàn bộ phức thể các biểu hiện bên ngoài, gọi gộp chung lại là “văn hóa của một dân tộc”. Văn hóa và trình tự những biến đổi của nó là cái biểu hiện trực quan lịch sử đã kinh qua của mỗi xã hội. Những người theo thuyết tiến hóa định nghĩa tính trình tự của các biến đổi văn hóa – xã hội đó là “sự phát triển tiến bộ”, ý muốn nói rằng trong quá trình lịch sử mức độ phức tạp của các thể thức tổ chức – điều chỉnh của cơ cấu xã hội bên trong của xã hội và thể hiện văn hóa bên ngoài của nó ngày một cao hơn. Dĩ nhiên, mỗi dân tộc đều phát triển về mặt xã hội với nhịp riêng của mình, chủ yếu phụ thuộc nhiều vào các đặc điểm và điều kiện tồn tại cụ thể của nó, vào mức độ biệt lập về mặt địa lý của nó, mức độ phức tạp của hoàn cảnh tự nhiên và đời sống chính trị… Tính chất năng biến đó có thể rất động, hoặc cũng có thể rất chậm (về nhịp độ), trên thực tế khó nhận biết được khi quan sát. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp sau, vẫn diễn ra những thay đổi, có điều là để làm rõ được sự biến đổi đó, cần phải khái quát vốn tài liệu quan sát trong suốt vài ngàn năm, là cái mà khoa học đương đại không có.

Trong những trường hợp sự phát triển của các thể thức xã hội và văn hóa của các cộng đồng lịch sử là hiển nhiên và có thể khái quát và hệ thống hóa bằng trực quan, thì trong sự phát triển đó, ngoài các dấu hiệu của sự tiến bộ (tức là phức tạp hơn về cấu trúc và chức năng), ta cũng thấy được nhiều tính quy luật của tính năng biến lịch sử.

Tính quy luật đầu tiên là trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội, trình độ chuyên môn hóa trong hoạt động của con người ngày càng cao hơn. Với mỗi kỷ nguyên mới, con người hoạt động đánh mất dần các kỹ năng phổ quát, vốn dĩ làm chủ được mọi công nghệ được áp dụng trong lĩnh vực thực tiễn xã hội đó, và ngày càng đi vào chuyên sâu hơn, chỉ nắm được những công nghệ trong một lĩnh vực chuyên môn hẹp nào đó. Đồng thời, cả chiều sâu nhận thức lẫn chất lượng các kỹ năng chuyên môn của nó lại tăng dần lên. Quá trình này thể hiện rõ nhất là qua ví dụ trong ngành y hoặc hoạt động kỹ thuật công trình. Emile Durkheim là người đã chỉ ra được xu thế này ngay từ cuối thế kỷ XIX. Ông xác định và đã giải thích những những nguyên nhân của nó là do các công nghệ trong lĩnh vực hoạt động nào cũng ngày càng phức tạp hơn, đòi hỏi lao động phải chuyên sâu hơn.

Tuy nhiên, xu thế nào cũng dẫn đến những hệ quả xã hội – văn hóa nhất định. Nhờ không ngừng đi sâu chuyên môn hóa, nhịp độ và khối lượng các biến cải, đổi mới, kiện toạn trong mọi lĩnh vực hoạt động ngày một tăng. Sở dĩ như vậy là do công việc của một chuyên gia từng bước có sự cải tiến, sáng tạo hơn, điều này dần trở thành một bài toán tư duy trong thực tiễn nghề nghiệp của anh ta. Trong một số lĩnh vực ngay trong thời đại ngày nay, ta cũng thấy ranh giới giữa công việc của người chuyên thực hành và người chuyên nghiên cứu đang dần bị xóa nhòa. Cũng là điều dễ hiểu trong các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau, xu thế này phát triển mạnh yếu khác nhau.

Nhờ đó, nhịp độ năng biến của văn hóa trong quá trình lịch sử nói chung ngày càng cao. Trong lĩnh vực sản xuất vật chất, hiện tượng này được gọi là cách mạng khoa học – kỹ thuật, trong đó có thể phân định như sau:

+ Giai đoạn đầu tiên – bước chuyển sang kinh tế sản xuất vào thời đồ đá mới.

+ Giai đoạn thứ hai – hình thành các nền văn minh đô thị và sự ra đời của loại hoạt động sáng tạo vào khoảng 3 – 4 nghìn năm trước Công nguyên.

+ Giai đoạn thứ ba – hình thành nền sản xuất thủ công vào buổi bình minh thời đại công nghiệp.

+ Từ thế kỷ XIX, cuộc cách mạng đó diễn ra qua quá trình hiện đại hóa không ngừng toàn bộ hoạt động khoa học – kỹ thuật.

Nhưng cả trong nghệ thuật chúng ta cũng thấy động thái cao của sự thay đổi các phong cách nghệ thuật, trong khoa học – sự thay thế nhanh chóng các nguyên tắc và chuẩn nhận thức và khái quát, trong đời sống xã hội – sự tiến hóa từ chỗ ban đầu mối quan hệ huyết thống là chủ đạo tiến tới các quan hệ tôn giáo – chính trị, rồi sau đó đến các chính sách quốc gia và tiếp đó lại chuyển sang các quan hệ xã hội – văn hóa. Và cứ như vậy trong mọi lĩnh vực. Xu thế đó thực tế bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, dần dần thay thế mô thái truyền thống của Tồn tại xã hội ra ngoài lề Tồn tại đó.

Chúng ta thấy rằng nhịp biến của văn hóa của một xã hội hoàn toàn tương ứng với nhịp độ phát triển của xã hội đó. Điều này có thể xác định như là một tính quy luật rõ nét của động thái văn hóa xã hội trong lịch sử. Về mặt kinh nghiệm, tính quy luật này đã được ghi nhận từ lâu. Và theo tôi, đó là do quá trình chuyên môn hóa tăng trong hoạt động của con người và tính chất sáng tạo của hoạt động ấy.

(còn tiếp)

Người dịch: Ngô Tuy Phước

Nguồn: TN 2014 – 3 & 4

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s