Các phí tổn của một cuộc xung đột chủ yếu là một chức năng của cường độ và khoảng thời gian. Ít tốn kém nhất, rõ ràng, là một cuộc chiến tranh ngắn, cường độ nhẹ; tốn kém nhất, là một cuộc chiến dài, khốc liệt. Các kiểu phí tổn thay đổi theo thời gian: ban đầu, các thiệt hại quân sự sẽ chi phối; đúng lúc, các phí tổn kinh tế sẽ tăng, và các thiệt hại quân sự có thể giảm khi các khả năng đối kháng giảm. Những sự kiềm chế và những áp lực chính trị trong nước có thể xuất hiện từ khi bắt đầu, nhưng những điều này cũng có thể lấy được sức mạnh và thậm chí gây ảnh hưởng đến các sự lựa chọn của các nhà lãnh đạo khi các thiệt hại quân sự và các chi phí kinh tế tăng lên. Tương tự, các phản ứng và sự không chắc chắn của quốc tế – sự lo sợ, sự lên án, sự phản đối, sự ủng hộ chính trị, hỗ trợ vật chất, và những sự liên kết lại – có thể tăng lên theo thời gian và một cách nghiêm trọng.

Sử dụng khoảng thời gian và cường độ làm những biến số chính trong việc miêu tả con đường của chiến tranh cho thấy 4 trường hợp: ngắn, cường độ nhẹ; dài, cường độ nhẹ; ngắn, ác liệt; và dài, ác liệt (các khả năng khác không được xem xét, nhưng có thể được đưa thêm vào).

Lưu ý lại một lần nữa rằng yếu tố chính trong việc xác định liệu một cuộc chiến tranh được kiềm chế hay khốc liệt từ ban đầu là liệu các nhà lãnh đạo chính trị có bật đèn xanh cho quân đội của họ về các cuộc tấn công đối kháng hay không. Người ta có thể suy đoán dựa vào cả cơ sở thể chế lẫn lựa chọn hợp lý liệu sự kiềm chế có được thực hiện hay không. Sự kiểm soát dân sự quân đội của Mỹ là chắc chắn trên nguyên tắc và thực tiễn. Mặc dù chủ tịch Trung Quốc hiện nay cảm thấy một nhu cầu thắt chặt kiểm soát đối với PLA, có ít thông tin có thể được để đánh giá cách các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự Trung Quốc hiện nay sẽ xử lý quyền chỉ huy trong suốt thời chiến. Ngay cả với các sự bảo vệ về thể chế đầy đủ của cả hai bên, logic tấn công không trì hoãn là có sức thuyết phục. Bởi vì sự lưỡng lự có thể dẫn đến những thiệt hại và bất lợi về hoạt động quá lớn để có thể khắc phục, con đường “an toàn” có thể là tấn công các lực lượng kẻ thù nhanh chóng, nếu không phải là tấn công trước.

Cũng lưu ý rằng các quyền lợi thấp hơn và bạo lực không chủ ý ít có khả năng đẩy nhanh các hành động chiến tranh ác liệt hơn là các quyền lợi cao hơn và một sự lựa chọn chiến tranh được cân nhắc. Hơn nữa, một cuộc xung đột kéo dài sẽ có khả năng hợp với mức cường độ được thiết lập từ lúc bắt đầu của nó. Trong trường hợp khốc liệt, dù các phí tổn là lớn với cả hai bên, không bên nào có khả năng rõ ràng có những triển vọng tốt hơn. Tương tự, nếu các quyền lợi là quan trọng, các thiệt hại cao có thể cản trở hơn là có lợi cho thỏa hiệp và ngừng chiến. Ngay cả nếu chiến sự được hạn chế và rời rạc, sự tiếp diễn của nó có thể ít tốn kém hơn, ít nhất về mặt chính trị, so với thừa nhận tình huống đã được nói đến.

Các giới hạn cao hơn và thấp hơn

Trước khi ước tính các thiệt hại, chi phí và các tác động khác, có thể của 4 trường hợp này, việc xem xét các giới hạn cao hơn và thấp hơn tính khốc liệt của một cuộc chiến tranh là có ích.

Người ta có thể dễ dàng tưởng tượng một cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Mỹ dưới ngưỡng của cái đã được miêu tả ở đây như là “cường độ nhẹ”. Ngay khi Nga sử dụng các biện pháp phi bạo lực, cùng với một số biện pháp bạo lực (chẳng hạn, cái được gọi là những người lính xanh (lực lượng quân sự bất thường) để can thiệp vào và cắt ra các phần của Ukraine, Trung Quốc có và sử dụng một loạt các biện pháp quân sự và phi quân sự để thúc đẩy các lợi ích của nước này với sự thiệt hại cho những nước láng giềng của họ và cho Mỹ. Quả thực, Trung Quốc đang theo đuổi một chiến lược như vậy (không có những người lính xanh) để nhấn mạnh những tuyên bố chủ quyền có ảnh hưởng sâu rộng của họ trên biển Hoa Đông và Nam Trung Hoa: can thiệp vào các tàu của các nước khác, đặt các giàn khoan dầu và các đảo nhân tạo trong vùng biển tranh chấp, và nhắc nhở một cách đe dọa các nước láng giềng rằng “Trung Quốc là một nước lớn và các nước khác là nước nhỏ, và đó chính là một thực tế”. Rõ ràng, người Trung Quốc tìm cách cô lập và gây áp lực các nước láng giềng mà không gây ra sự can thiệp của Mỹ. Cũng rõ ràng như vậy, Mỹ và các đồng minh của họ, bao gồm Nhật Bản, có thể và sẽ can dự vào các hành động tương hỗ. Ở chừng mực mà cả Trung Quốc lẫn Mỹ đều liên quan, ta có thể thấy một kiểu xung đột không sử dụng vũ lực. Chiến lược của Mỹ để cản trở một chiến dịch như vậy của Trung Quốc là quan trọng như không thích hợp với nghiên cứu này. Mặc dù các chi phí và hậu quả của cuộc xung đột “khu vực chưa phân rõ trắng đen” như vậy sẽ thậm chí thấp hơn một cuộc xung đột vũ trang cường độ thấp, như được xác định trước đó, có một khả năng nào đó rằng thương mại khu vực có thể chịu tổn thất như một hậu quả.

Từ cách nhìn khác, trường hợp kéo dài, khốc liệt không nhất thiết là giới hạn cao hơn của những gì chiến tranh có thể đòi hỏi và trả giá. Mỹ và Trung Quốc là những nước mạnh nhất thế giới, với các nền kinh tế lớn nhất, hai trong số ba nước dân số lớn nhất, nguồn lực con người và thiên nhiên to lớn, và khả năng tiến hành chiến tranh không thể vượt qua. Trong khi hai nước có những lợi ích thời bình hội tụ quan trọng, cũng có “sự nghi ngờ chiến lược” đáng kể giữa họ. nếu họ đi đến chiến tranh, sự nghi ngờ có thể trở thành sự đối lập sâu sắc, và logic của xung đột có thể tạo ra các mức độ bạo lực, khoảng thời gian, và chi phí mà có thể dường như vô lý trong thời bình. Trong lịch sử hiện đại, các cuộc chiến tranh liên quan đến các nước lớn và ít nhiều ngang sức nhau đã lôi kéo nhiều bên thứ ba vào (không chỉ các đồng minh trước chiến tranh), kéo dài hàng năm, gây di căn đến các khu vực khác, và buộc các bên tham chiến chuyển đổi nền kinh tế của họ thành một sự sẵn sàng cho chiến tranh và cá xã hội của họ thành tinh thần chiến tranh. Toàn bộ dân số tạm ngừng cuộc sống bình thường; các bộ phận lớn trong số họ sẵn sàng hoặc buộc phải ủng hộ cuộc chiến đấu của nước mình. Không chỉ các nhà nước mà cả các ý thức hệ, thế giới quan và các hệ thống chính trị có thể đấu lại nhau. Bất kể các nguyên nhân ban đầu của chúng, các kết quả của chiến tranh như vậy có thể quyết định nước lớn nào và như vậy khối nào của họ tồn tại. Các hệ thống quốc tế trước chiến tranh sụp đổ hoặc được biến đổi để phục vụ các lợi ích của những người chiến thắng. Do đó, các phí tổn của việc thất bại nhiều hơn phí tổn của chiến đấu.

Hãy xem các cuộc chiến tranh của Napoleon đã nhấn chìm toàn bộ châu Âu như thế nào, Chiến tranh thế giới thứ nhất đã tàn phá một vài đế chế và mở rộng các đế chế khác như thế nào, và các mục tiêu đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai trở thành sự tàn phá hoàn toàn của chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật như thế nào, hơn là chỉ ngăn chặn việc xâm lược của họ. Trong các trường hợp này, các mục tiêu chiến tranh và các hành động tàn phá có thể vượt qua ý định ban đầu của các bên tham chiến với một khoảng cách lớn. Các chế độ của bên thua cuộc thường biến mất. Ngưỡng của các chi phí có thể chịu được có thể tăng khi chiến sự dai dẳng và hình phạt cho việc thua cuộc tăng lên. Có những ngoại lệ: những chiến thắng của quân Phổ trong ba cuộc chiến tranh thống nhất nước Đức và chiến thắng của Mỹ với Tây Ban Nha hiện ra. Nhưng đó là những vấn đề một phía giữa các cường quốc không ngang sức chấm dứt nhanh chóng và dứt khoát, mà không lan ra hoặc kéo theo các cường quốc khác.

Liệu một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ có giống với các cuộc chiến tranh nước lớn của lịch sử hiện đại – mở rộng, có hệ thống, tuyệt vọng? Liệu chiến sự có xóa bỏ tất cả phần còn lại của lợi ích chung trong một trật tự quốc tế phục vụ tốt cả hai nước? Liệu những chi phí ngày càng leo thang của xung đột dường như có thể chịu đựng được so với phí tổn của thua cuộc? Liệu kẻ thù có biến thành quỷ? Liệu dân cư có thành các mục tiêu?

Câu trả lời trung thực duy nhất cho những câu hỏi như vậy là không ai biết. Như chúng ta sẽ thấy, khả năng chiến sự không hồi kết ngày càng tăng giữa Trung Quốc và Mỹ có thể chi ra một khuynh hướng thiên về một cuộc chiến tranh kéo dài, khốc liệt, cay đắng. Hơn nữa, không thể loại trừ rằng một cuộc chiến Trung – Mỹ như vậy có thể phát triển các tính cách của hai cuộc chiến tranh nước lớn mà trở thành “chiến tranh thế giới”: lôi kéo các nước khác, nhấn chìm và tràn vượt ra ngoài khu vực, khóa hai hệ thống chính trị và dân cư vào một cuộc chiến để kết thúc, chấm dứt trong sự đầu hàng vô điều kiện, hòa bình bị sai khiến, sự chiếm đóng, sự tiêu diệt chế độ, và sự thống trị.

Đồng thời, việc mở rộng và sự tàn phá rộng lớn của các cuộc chiến tranh nước lớn hiện đại chủ yếu bắt nguồn từ các chiến dịch trên bộ lớn và tàn bạo và đánh bom chiến lược, nhắm vào việc xâm chiếm. Mặc dù ta không thể loại bỏ, các mục tiêu chiến tranh và việc chiến đấu như vậy dường như không có khả năng trong ngay cả một cuộc chiến Trung – Mỹ lớn trừ phi nó xuất phát từ những sự tính toán sai trong suốt một cuộc xung đột trên bán đảo Triều Tiên. Hơn nữa, Mỹ sẽ kiềm chế, nếu không phải là tránh, đánh bom chiến lược Trung Quốc vì sợ rằng điều đó sẽ đẩy nhanh chiến tranh hạt nhân. Tuy nhiên, có thể là trường hợp kéo dài, khốc liệt được đưa ra ở đây nhằm các mục đích phân tích có thể không đặt giới hạn cao hơn của một cuộc chiến tranh có khả năng giữa Trung Quốc và Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s