Tính thỏa đáng của các tiêu chuẩn quốc tế trong việc phòng ngừa khủng hoảng tại các nước đang phát triển phụ thuộc nhiều vào cách thức mà các tiêu chuẩn này được soạn thảo và được “nội địa hóa” cũng như lịch trình thực hiện cập nhật các tiêu chuẩn đó. Có nhiều ý kiến lo ngại được trình bày trong các nghiên cứu vốn hiếm hoi về các tiêu chuẩn tài chính (xem Liên hiệp quốc, 2001; Griffith-Jones, 2001; Parl, 2000; Persaud, 2000; Reddy, 2001; Rojas-Suarez, 2002 và UNCTAD, 2001):

+ Không có tiêu chuẩn cụ thể có giá trị cho tất cả các nước hay cho mọi giai đoạn. Mối quan ngại chủ yếu xuất phát từ việc các tiêu chuẩn được soạn thảo cho các nước công nghiệp lại tỏ ra không phù hợp với các nước đang phát triển vốn là những nước phải đối mặt với nhiều ràng buộc khác nhau, ít ra là trong ngắn hạn;

+ Các tiêu chuẩn phải được đưa vào theo một tiến trình phù hợp trên cơ sở tính đến sự vận động của các định chế và của thị trường một nước nhất định. Một trong những vấn đề lớn đặt ra là khi chưa có những định chế phù hợp như một khuôn khổ pháp lý và một hệ thống tư pháp thích hợp thì việc tuân chủ các tiêu chuẩn được gọi là “then chốt” chưa chắc sẽ đem đến được kết quả kỳ vọng. Ví dụ, một chính phủ có thể tuân thủ các tiêu chuẩn về phổ biến thông tin, nhưng thực tế lại chỉ phổ biến được rất ít thông tin do hoạt động kiểm soát khu vực công cộng kém hiệu quả nên không thu được nhiều thông tin;

+ Sự tham gia của các nước đang phát triển trong việc xác lập và soạn thảo các tiêu chuẩn cũng như trong việc lựa chọn mức độ ưu tiên của các tiêu chuẩn này là chưa đủ. Có thể là việc các nước đang phát triển có số lượng đại diện ít ỏi trong các định chế và tổ chức chịu trách nhiệm xác lập các tiêu chuẩn là một nguyên nhân tạo ra các vấn đề liên quan đến tính thỏa đáng, đến sự lựa chọn tiến trình phù hợp và đến việc thực thi các tiêu chuẩn này. Cũng cần nói thêm là sự tham gia hạn chế của nước có liên quan sẽ làm mất đi tính “nội địa hóa” của cải cách được đề xuất;

+ Các tiêu chuẩn và quy tắc được soạn thảo nhằm tạo lập kỷ luật ở các nước vay nợ làm thay đổi sự quan tâm của các nước tài trợ vốn cũng là người góp phần vào các cuộc khủng hoảng giai đoạn 1997 – 1998 cũng như sự lan rộng của các khủng hoảng này, nhất là do việc họ dừng các khoản vay ngân hàng và vì thế làm khựng lại quá trình thực hiện các tiến bộ có tính quyết định hướng tới một kiến trúc tài chính quốc có khả năng chống chịu được khủng hoảng;

+ Việc không tính đến “bản năng bầy đàn” của các nhà đầu tư khi soạn thảo các tiêu chuẩn, đặc biệt là về mảng xử lý và minh bạch những rủi ro nhạy cảm với biến động của thị trường, có khả năng làm gia tăng chứ không phải là giảm thiểu xu hướng hệ thống tài chính quốc tế tạo ra khủng hoảng;

+ Việc giao cho các tổ chức tài chính quốc tế một nhiệm vụ quá nặng trong việc soạn thảo và đánh giá các tiêu chuẩn có thể dẫn đến xung đột quyền lợi giữa các chương trình đánh giá và các chương trình cho vay, và làm ảnh hưởng đến nguyên tắc tự nguyện thông qua. Thực tế, các biện pháp kích thích và các hình phạt gắn liền với việc xây dựng các tiêu chuẩn có nguy cơ trở thành một dạng giám sát và đặt điều kiện.

Tương tự như thủ tục giản đơn là mở một tài khoản vốn, việc thực thi các tiêu chuẩn vấp phải vấn đề thủ tục phù hợp và những giới hạn về năng lực. Các vấn đề liên quan đến giới hạn năng lực của một nước nghèo, đến sự gia tăng các tiêu chuẩn tài chính trong tuyển tập của FSF và đến việc xác định mức độ ưu tiên cho các tiêu chuẩn có liên quan chặt chẽ với nhau. Chúng ta không thể không xem xét mặt nào đó trong các tiêu chuẩn muốn áp dụng nếu muốn xác định mức độ ưu tiên của các tiêu chuẩn. Rojas-Suarez (2001) đã chứng minh một cách thuyết phục rằng độ sâu của các thị trường tài chính quốc gia và chất lượng của khuôn khổ luật pháp và định chế là những tham số hết sức quan trọng cần tính đến để tránh được những hiệu ứng phụ không mong muốn và để cho các tiêu chuẩn có tính hiệu quả. Có những yếu tố khác cũng cần được tính đến: các tiêu chuẩn thuần túy kỹ thuật có thể dễ dàng được áp dụng hơn những tiêu chuẩn có hệ lụy đến chính sách của chính quyền, nên việc áp dụng nằm trong một tiến trình rộng hơn cải cách kinh tế; những tiêu chuẩn liên quan nhiều đến ý nghĩa văn hóa – xã hội là những tiêu chuẩn mà khi áp dụng có thể làm nảy sinh nhiều khó khăn hơn do độ tin cậy có hạn chế (Reddy, 2002). Dù thế nào thì vẫn cần phải tìm ra một sự cân bằng giữa xu hướng các tổ chức quốc tế gia tăng các tiêu chuẩn và hạn chế năng lực của các nước nghèo. Việc nghiên cứu chi phí cơ hội của các tiêu chuẩn và quy tắc là một nhiệm vụ cấp bách. Rodrik (2001) dẫn một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới ước tính rằng một nước đang phát triển điển hình phải tiêu tốn tới 150 triệu USD chỉ để tuân thủ các yêu cầu của ba hiệp định của WTO (về giá trị hải quan, về các biện pháp y tế và về quyền sở hữu trí tuệ). Cần phải thấy rằng số tiền đó tương đương với ngân sách hàng năm dành cho hoạt động phát triển của nhiều nước trong số các nước chậm phát triển. Việc định lượng chi phí (cơ hội), như vậy là cần thiết khi thấy rằng khoản tiền này tăng trưởng theo hàm lũy thừa, cho dù đó là các tiêu chuẩn tài chính hay các tiêu chuẩn khác. Tất cả các bạn ROSC cần phải có dạng ước tính này.

Có thể cũng nên quan tâm xem liệu vấn đề “nội địa hóa” thực tình có phải là chuyện nói quá không Andrew Crockett (2000), chẳng hạn, ngay từ đầu đã quan tâm đến sự cần thiết phải tìm ra được một sự cân bằng giữa tư cách của FSF (thực tế đang được nâng cao qua số lượng nước và tính đa dạng của các quan điểm được đại diện trong ba nhóm làm việc) và tính hiệu quả của nó. Các nước mới nổi có đủ kinh nghiệm chính trị đã tham gia vào tiến trình này từ rất sớm và hiện đã hình thành được các nhóm khu vực.

Có lẽ điều đáng lo ngại hơn là khả năng tổng thể quy trình tiêu chuẩn và quy tắc có thể không hiệu quả. Argentina là một trong những nước đang phát triển có số lượng các báo cáo về tuân thủ các tiêu chuẩn và quy tắc (ROSC) được công bố nhiều nhất trên địa chỉ Internet của IMF (http://www.imf.org/external/np/rosc/rosc.asp). Nhưng nước này hiện đang trải qua một cuộc khủng hoảng hết sức sâu sắc.

Trong bản báo cáo có tựa đề “Experimental Report in Transparency Practices Argentina” (http://www.imf/org/external/np/rosc/index.html) công bố vào năm 1999 (vào thời điểm mà thị trường bắt đầu tăng lãi suất trái phiếu bằng đồng USD do Chính phủ Argentina phát hành và các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm đã bắt đầu hạ điểm đánh giá nợ chính phủ của Argentina do những lý do tài khóa), IMF đã khen ngợi nước này vì đã vượt yêu cầu khi thực thi bộ luật về các hành vi chuẩn trong lĩnh vực minh bạch tài chính công. Một nhận xét đáng lo ngại khác liên quan đến tính hiệu quả của tiến trình là việc các dòng vốn tư nhân sang các nước đang phát triển liên tục giảm từ khi tiến trình này được triển khai. Hoặc là các nhà đầu tư không (hai ít ra là chưa?) quan tâm đến các ROSC, hoặc là chẳng có tiến bộ rõ nét nào cả.

Tuy nhiên, một vài tín hiệu cho thấy các nhà đầu tư có tổ chức bắt đầu quan tâm đến các tiêu chuẩn và quy tắc (Reisen, 2002). Đầu năm 2002, Quỹ Hưu trí công chức California (California Public Employees Retirement System – CalPERS), quỹ hưu trí nhà nước lớn nhất của Hoa Kỳ với danh mục đầu tư lên tới 151 tỷ USD, đã quyết định rút lui khỏi Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan, trong khi lại triển khai những dự án đầu tư mới vào cổ phiếu ở Hungary và Ba Lan. Sự rút lui của CalPERS diễn ra sau khi có sự xem xét lại các tiêu chí được sử dụng để xác định các nước được phép đầu tư (“permisible countries”) và các tiêu chí này từ nay đã quan tâm hơn đến các yếu tố cho phép xác định một khoản “đầu tư có trách nhiệm về mặt xã hội”. Mặc dù danh mục chứng khoán của CalPERS ở châu Á đã giảm xuống, nhưng do vị thế nổi bật của nhà đầu tư này nên quyết định của nó sẽ là một tín hiệu mạnh gửi tới các nhà đầu tư có tổ chức khác.

Trong mô hình mới mà CalPERS áp dụng cho việc đầu tư vào các thị trường mới nổi, các tiêu chí sau đây chiếm tới 50% số điểm: tính thanh khoản và tính bấp bênh của thị trường, quy tắc thị trường và việc bảo hộ các nhà đầu tư, mức độ mở cửa của thị trường vốn, thời hạn thanh toán và chi phí giao dịch. Tính ổn định chính trị, tính minh bạch tài chính và các tiêu chuẩn lao động là 50% số điểm còn lại. Chỉ có 13 thị trường mới nổi đã được xếp vào danh sách các nước “được phép”. Trong số các nước này thật lạ là Argentina lại có số điểm cao nhất theo các tiêu chí được sử dụng (trong khi nước này đang bị xếp hạng “selective default”(vỡ nợ một phần) theo đánh giá của Moody và nhiều công ty đánh giá hệ số tín nhiệm khác). Nhận định này khiến chúng ta nghĩ rằng nếu quá tập trung vào tiêu chuẩn và quy tắc sẽ có nguy cơ tạo ra sự ngăn cách giữa những nước được đánh giá đáng để các nhà đầu tư quan tâm và những nước được đánh giá là không đáng quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh đó, các tiêu chuẩn có thể giữ vai trò chất xúc tác cho những thay đổi trong lĩnh vực điều hành, mở cửa và minh bạch. Chính quyền của các nước được đánh giá là đáng được các nhà đầu tư có tổ chức quan tâm và đang ghi tên mình vào danh sách các nước có thể được đầu tư có thể sẽ có động cơ hoàn thành nốt những khâu cuối cùng, ví dụ như trong lĩnh vực quy tắc ngân hàng hay mở cửa thị trường, để cho phép họ gia nhập câu lạc bộ các thị trường đầu tư.

Nguồn: Hội đồng phân tích kinh tế – Khủng hoảng nợ, phòng ngừa và giải pháp – NXB CTQG 2005

Daniel Cohen từ Đại học Sư phạm, CEPREMAP và CEPR (Pháp), Richard Portes từ London Business School, EHESS và CEPR.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s