Một tính quy luật khác là động thái xã hội – văn hóa là có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nhịp độ phát triển xã hội – văn hóa của xã hội và trình độ bản sắc địa phương của văn hóa đó. Chúng ta biết rõ rằng tất cả các nền văn hóa tộc người, và sau đó là văn hóa quốc tộc (quốc gia – dân tộc) đều có những nét khác nhau do được thể hiện bản sắc đậm nhạt tính lịch sử cụ thể của mình, giúp ta phân biệt được các nền văn hóa khác nhau, và cùng với đó, dựa theo mức độ lịch sử cụ thể của sự khái quát, điều phải nói tới không phải là văn hóa chung chung, mà là về một tập hợp các nền văn hóa có bản sắc riêng khác nhau.

Tuy nhiên, khi xem xét hiện tượng này trong động thái lịch sử, ta sẽ thấy độ đậm nhạt của bản sắc văn hóa địa phương của một xã hội được quyết định chủ yếu bởi nhịp độ phát triển xã hội của nó. Khi động thái phát triển của xã hội được đẩy nhanh, thì độ đậm bản sắc văn hóa của nó lại phai nhạt đi, còn khi nhịp độ phát triển xã hội chậm lại thì tính đặc thù văn hóa lại tăng lên. Chúng ta thực tế hiểu rất rõ rằng việc tăng cường độ động thái phát triển thường phải trả bằng sự mất mát một phần không nhỏ tính đặc thù văn hóa truyền thống; điều này thể hiện rõ qua các thí dụ về công cuộc cải cách của Petr Đại đế ở Nga, của Minh Trị Duy Tân ở Nhật Bản của Kemal Ataturk ở Thổ Nhĩ Kỳ… Và ta cũng có thể thấy việc củng cố bản sắc văn hóa lại luôn đi kèm sự trì trệ trong phát triển xã hội, như trong lịch sử của nước Nga qua thí dụ vương quốc Moskva hay trong một số thời kỳ lịch sử Trung Quốc (thời nhà Tần chẳng hạn).

Phải nói rằng bản sắc văn hóa địa phương không có chung nguyên nhân xuất hiện, ở đây chỉ có thể nói đến một sự tổng hòa của nhiều nhân tố sinh ra hiện tượng này. Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là tình huống biệt lập về giao tiếp của cộng đồng ấy trong một khoảng thời gian nào đó. Trong giai đoạn phát triển nguyên thủy sơ kỳ, cái giữ vai trò cơ bản là sự biệt lập địa lý quan của các tập thể, về sau thêm vào đó là tình trạng biệt lập về ngôn ngữ, chính trị, tôn giáo nữa. Trong thời kỳ nguyên thủy và nông nghiệp, nhịp phát triển xã hội rất chậm, bản sắc văn hóa địa phương đóng vai trò quan trọng torng việc đảm bảo độ bền thực tiễn của các xã hội là đơn vị xã hội độc lập. Nhưng khi nhịp phát triển xã hội được đẩy nhanh hơn thì mối liên hệ với các nước láng giềng cũng được tăng cường, các công nghệ kinh tế, xã hội, quân sự… tiên tiến được tích cực du nhập. Các rào cản giao tiếp ở đây bắt đầu thưa dần. Trong điều kiện đó, sức thể hiện của bản sắc văn hóa bắt đầu giảm đi, đơn giản là vì nó không còn cần thiết nữa đối với những nhiệm vụ phát triển mới.

Tôi cho rằng bản sắc địa phương tuyệt nhiên không phải là hình thức bắt buộc của Tồn tại văn hóa, mà chỉ là một trường hợp cá biệt của Tồn tại đó, cái Tồn tại chịu sự quy định của các yếu tố hoàn cảnh tự nhiên – lịch sử trong những thời đoạn lịch sử ban đầu của nó, trước hết là chế độ tự đủ (tự sản tự tiêu) về mặt xã hội của cộng đồng địa phương và sự tồn tại biệt lập ở mức độ nhất định của nó. Nhưng trong quá trình phát triển công nghiệp và hậu công nghiệp của các xã hội, chế độ tự đủ xã hội tự cung cấp lại bắt đầu cản trở sự tiến bộ trong mọi lĩnh vực đời sống. Đối ngược lại tình trạng đó, việc trao đổi thông tin, kinh nghiệm và kiến thức giữa các dân tộc ngày càng tăng lên, các rào cản giao tiếp được xóa bỏ và đồng thời ý nghĩa chức năng của bản sắc văn hóa và các nét đặc điểm biểu hiện của nó giảm đi. Nhịp độ phát triển xã hội càng cao thì quá trình này càng mạnh hơn lên.

Tuy nhiên, xét về triển vọng, ít có khả năng bản sắc văn hóa địa phương sẽ biến mất hoàn toàn. Mọi xã hội đều không đồng nhất về mặt xã hội. Trong mỗi xã hội bao giờ cũng sẽ tồn tại một tầng lớp người năng lực cạnh tranh thua kém trong mọi dạng hoạt động, đặc biệt là trên các hướng canh tân mạnh nhất, có thể tạm gọi là lớp người sống ngoài lề xã hội. Chính là đối với lớp người này, chứng tỏ bản sắc văn hóa địa phương sẽ vẫn là hình thức cơ bản để họ tự thể hiện về mặt xã hội, là sự bù lại về phương diện tâm lý sự yếu kém về năng lực cạnh tranh của họ trong các lĩnh vực khác của thực tiễn xã hội.

Tính quy luật thứ ba của động năng văn hóa – xã hội xem xét ở đây là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa trình độ phát triển văn hóa – xã hội của xã hội và các thông số tự do xã hội của cá nhân con người. Sự tùy thuộc lẫn nhau này thể hiện ở chỗ theo đà phát triển của xã hội và cơ cấu xã hội ngày càng phức tạp hơn, sự giám sát xã hội đối với cá tính con người ngày càng giảm theo từng giai đoạn, và nó (cá tính) ngày càng có điểu kiện để tự thực hiện về mặt xã hội và văn hóa, tức là có tự do xã hội lớn hơn. Mức độ kiểm soát khắt khe của xã hội đối với cá nhân trong các cộng đồng thời đoạn phát triển nguyên thủy, thể hiện qua vô số điều húy kỵ, nghi thức, nghi lễ…, cao hơn nhiều so với sự giám sát của công xã nông thôn đối với các chủ đất thời đại nông nghiệp của thời đại nông nghiệp thể hiện qua hệ thống các tập tục tộc người và tôn giáo và phân biệt đẳng cấp. Sự giám sát đó còn nhẹ hơn nữa đối với người dân thành thị thời công nghiệp vì lúc đó thị dân đã có các quyền công dân và tự do chính trị nhất thời theo luật định. Ở thời đoạn phát triển hậu công nghiệp, quyền tự do tự thể hiện văn hóa của con người được ưu tiên hàng đầu. Vec-tơ phát triển của tình huống theo hướng mở rộng quyền tự do xã hội của cá nhân ở đây là hoàn toàn rõ.

Để hiểu được tính chế ước xã hội của quá trình này, cần hình dung văn hóa người như một chương trình hành vi ứng xử xã hội của các thực thể sống, như đã nói ở phần đầu bài viết này. Cách ứng xử xã hội của động vật được điều chỉnh chủ yếu bởi hệ thống các bản năng do di truyền và quy định toàn bộ các phản ứng điển hình khi gặp các tình huống điển hình trong đời sống. Trong quá trình hình thành loài người, các bản năng động vật thông thường chủ yếu là được thay thế bằng một chương trình ứng xử xã hội khác – đó là tập quán tộc người. Tập quán xét về bản chất là cái tươg tự như hành vi bản năng: nó cũng được xây dựng dựa trên các phản ứng điển hình trước các tình huống sống điển hình, nhưng cơ sở thông tin của nó rõ ràng là các điểm mẫu của ý thức và tâm thức không phải do di truyền, và có được nhờ bắt chước cha mẹ truyền lại cho con cái. Dĩ nhiên, cái đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc kế thừa tập quán còn có những phương pháp huấn luyện đặc biệt cho con cháu những quy tắc ứng xử đã thành tập quán. Nhưng dù sao đi nữa thì trong trường hợp này, việc trẻ bắt chước – hành vi ghi nhớ máy móc các mẫu ứng xử của cha mẹ – vẫn là khâu quan trọng hơn. Quá trình chuyển giao tập quán này cũng chính là quá trình xây dựng nên văn hóa truyền thống của các thời đại nguyên thủy và nông nghiệp. Hoạt động sống của người làm nông nghiệp ở nông thôn, chiếm tuyệt đại đa số trong cư dân các thời đại lịch sử buổi sơ kỳ, về nguyên tắc, chưa cần có một chương trình hành xử nào khác, phức tạp hơn.

Tình huống thay đổi về nguyên tắc khi xã hội chuyển sang trình độ phát triển công nghiệp và đặc biệt là khi bắt đầu quá trình đô thị hóa trên quy mô lớn. Cuộc sống ở đô thị công nghiệp đã không còn có thể trông cậy vào việc học cách phản ứng điển hình để ứng phó với các tình huống điển hình nữa. Đến đây thì lại có một mô thái ứng xử xã hội khác hẳn, mà cơ sở của nó là dựa vào năng lực ứng phó tức thời của người ta trong các tình huống hoàn toàn không phải là điển hình trong cuộc sống. Và thay thế cho tập quán là một chương trình hành vi ứng xử khác – hệ thống hành vi ứng xử duy lý. Khác với tập quán và các phương châm có tính chất bắt buộc, cách hành xử duy lý được xác định bởi chính con người, lý trí của nó và giới hạn trong phạm vi các luật lệ khá trừu tượng điều chỉnh hành vi trong các tình huống cực đoan. Quyền hành xử duy lý theo lý trí của con người – đó chính là tự do. Việc xã hội tin vào lý trí của con người dẫn đến chỗ giảm dần mức độ giám sát xã hội đối với ứng xử của con người, không can thiệp vào đời sống riêng tư, hình ảnh bên ngoài và các biểu hiện cá nhân khác (nếu các hành vi đó không nguy hiểm cho người xung quanh) của nó.

Như vậy trong suốt lịch sử nhân loại, chúng ta có thể thấy sự thay thế các chương trình ứng xử xã hội của người Homo sapiens trở thành văn hóa và thể hiện trong văn hóa. Quá trình tiến hóa đi từ bản năng thông thường chủ yếu là trong thời đoạn hình thành con người, chuyển sang trình độ tập quán tộc người, điều chỉnh hành vi của con người trong các thời đoạn nguyên thủy và nông nghiệp, để rồi tiếp đó tiến tới cách hành xử duy lý của các thành viên xã hội dân sự bắt đầu trong các thời đoạn công nghiệp và đầu hậu công nghiệp của lộ trình tiến hóa xã hội. Và đó là hệ quả trực tiếp của sự phát triển xã hội mà xã hội đã trải qua trong tiến trình lịch sử của nó.

Bảng liệt kê trên, tất nhiên, không phải đã là tất cả các tính quy luật điều chỉnh sự phát triển văn hóa – xã hội của loài người, nhưng nó cho phép dự đoán một số xu thế tương lai văn hóa trong tương lai trước mắt. Trong tương lai ấy, có thể, một là, nhịp độ thay đổi các hình thức, phong cách, thể thức văn hóa sẽ được đẩy lên nhanh hơn. Hai là, có thể ý nghĩa thời sự của bản sắc dân tộc của văn hóa sẽ giảm, dần dần trở thành một nét văn hóa đặc thù của bộ phận dân cư theo chủ nghĩa truyền thống. Và ba là, để bù đắp lại cho sự suy giảm ý nghĩa quan trọng của khởi đề quốc tộc, cần đề cao vai trò và ý nghĩa của khởi đề tính cá nhân trong văn hóa, mà không chỉ trong văn hóa nghệ thuật như ta đã thấy kể từ thời Phục Hưng, nhưng bây giờ là cả trong văn hóa xã hội. Lẽ dĩ nhiên, dự báo này là dành cho viễn cảnh văn hóa tới đây của các nước phát triển hậu công nghiệp. Dự báo này liệu có ý nghĩa thời sự đối với nước Nga không là tùy thuộc vào nhịp độ và những đặc điểm phát triển hậu công nghiệp của nó.

Người dịch: Ngô Tuy Phước

Nguồn: TN 2014 – 3 & 4

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s