Thứ nhất, có thể bắt đầu xem xét và hoàn thiện vấn đề nhịp độ và những giới hạn của tăng trưởng kinh tế. Nếu ai đó hiểu nhịp độ tăng trưởng là chỉ số liên quan đến phạm trù sản phẩm quốc nội, thì chúng ta không ảo tưởng rằng khả năng gia tăng trung bình trong những năm gần đây, có thể là 5 năm hay 10 năm, và về lâu dài cho 50 hay 100 năm là không thể duy trì được. Nhưng nhiều người cho rằng, nhịp độ gia tăng có thể gây bất ngờ, chính thế – thế giới phải giảm nhiệt. Tuy nhiên, thế giới không có nghĩa là tất cả mọi người, tất cả mọi nơi, có cùng một nhịp độ.

Các nước nghèo cần phải đẩy nhanh sự phát triển nền kinh tế của mình – tức là cả về sản lượng lẫn cải tổ cơ cấu có tính phản hồi đi cùng với sự phát triển. Đấy là nhu cầu – và như hiện nay chúng ta biết rõ – có thể thực hiện được. đểu điều đó biến thành hiện thực, các quốc gia phải xây dựng những chiến lược phát triển dựa trên luận cứ đúng đắn của thuyết trùng hợp ngẫu nhiên của sự phát triển, cũng phải xác định chiến lược phát triển dài hạn dựa trên tân chủ nghĩa thực dụng, mang tính dân tộc, nhưng thích ứng với quá trình toàn cầu hóa đang tiếp tục diễn ra. Không nên ảo tưởng rằng sẽ thành công trong việc lặp lại những thành tựu mang tính lịch sử của Châu Âu – trước hết là Tây Âu, sau đó là Đông Âu – hay Bắc Mỹ. Các quốc gia này có thể rút ngắn khoảng cách phát triển một cách cơ bản so với các nước phát triển tại các khu vực trên thế giới.

Các quốc gia đã chuyển đổi tại Trung – Đông Âu cần phải – và họ có thể về mặt thực tiễn – điều để duy trì cho toàn bộ thời gian của thế hệ tiếp theo, tức là trong viễn cảnh từ 2035 đến 2040, tốc độ tăng trưởng GDP đạt nhanh gần gấp đôi so với các quốc gia giàu có của châu Âu. Điều đó đủ để thu hẹp khoảng cách về mức thu nhập và giảm thiểu một cách cơ bản về khoảng cách về mức sống. Điều này không tự diễn ra, mà cần phải tiếp tục tiến hành những chuyển đổi hòa nhập với các nước phát triển cao, đặc biệt là với Liên minh châu Âu, thiếu chiến lược phát triển phù hợp với bản sắc dân tộc thì khó có thể thành công.

Khi nói về các nước cộng hòa hậu Xô viết, đặc biệt những nước sở hữu nguồn nhiên liệu năng lượng giàu có từ thiên nhiên, phải biết tận dụng một cách tốt nhất những gì mà sự trùng hợp ngẫu nhiên đem lại – sự hào phóng của thiên nhiên, việc duy trì giá nhiên liệu năng lượng ở mức cao và chuyển đổi thể chế sang kinh tế thị trường. Cho đến nay, mọi việc đang tiến triển không phải là hoàn hảo, bởi khai thác dễ dàng những gì không phải từ trí tuệ: một thể chế hiệu quả và lao động hết mình, tuy nhiên, họ vẫn gặp may mắn nhờ món quà của mẹ trái đất.

Các nước cộng hòa còn lại của Liên Xô cũ sẽ găp những khó khăn và khoảng cách của các quốc gia này với khu vực phát triển của Châu Âu và Châu Á trong một vài chục năm tới có thể càng rộng ra. Ukraine có vị trí đặc biệt – một quốc gia quan trọng trong thời hậu chiến tranh lạnh hợp tác và đối đầu – số phận của quốc gia này lệ thuộc vào khả năng liên kết với Liên minh châu Âu trong một vài chục năm tới, hay gần gũi với Nga hơn (hoặc phân tách). Phương án thuận lợi nhất là liên kết với Liên minh châu Âu, nhưng với điều kiện là không khai thác điều đó như một công cụ làm suy yếu nước Nga, mà chỉ để tạo mặt bằng mang tính địa chính trị cho sự hợp tác cùng có lợi với Nga mang tính đa phương. Với Belarus, vấn đề tương tự như với Ukraine. Tuy nhiên, toàn bộ phần lãnh thổ của các quốc gia hậu XHCN – từ Mông Cổ và Tadzykistan đến Kosovo và Macedonia – sẽ phát triển nhanh hơn so với mức trung bình của thế giới.

Trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ giảm nhiệt. Thời điểm giảm nhiệt – mặc dù đã được cảnh báo nhiều lần từ nửa thập niên 90 – vẫn chưa xuất hiện. Có thể giả thiết là không thể phá vỡ được tiến trình phi liên kết của Trung Quốc, như Phương Tây mong muốn. Cũng cần nhận thấy rằng, chính quyền Trung Quốc với những giải pháp sáng suốt vẫn tiếp tục đường lối kết hợp cải tổ cơ cấu và xây dựng thể chế thị trường với chính sách phát triển như trong vòng 30 năm gần đây. Nếu kiên trì chủ trương này, từng bước phân cấp bộ máy hành chính nhà nước và không vội vã mở rộng nền dân chủ, thì quốc gia này trong vòng một hoặc hai thập kỷ tới sẽ thànhc ông trogn việc phát triển đất nước nhanh hơn mức trung bình của thế giới, mặc dù sẽ không nhanh bằng thời gian gần đây. Trong viễn cảnh như vậy, có thể Đài Loan sẽ trở về với đất tổ – đặc biệt là sự chênh lệch về mức độ phát triển giữa Đài Loan và các vùng phía nam của Trung Quốc sẽ được thu hẹp – điều đó càng gai tăng sức mạnh của Trung Quốc.

Châu Phi phải tăng tốc. Khu vực này phải phát triển nhanh hơn những nước giàu có, nhằm kiềm chế sự chênh lệch quá lớn và về lâu dài phải rút ngắn được sự chênh lệch này. Để đạt được mục tiêu này – điều đơn giản là Châu Phi phải duy trì được sự phát triển như tốc độ hiện nay, cao hơn so với mức trung bình của thế giới (tương ứng với những năm 2005 – 08 bình quân hàng năm là 5,8 và 5%). Cần lưu ý rằng, đấy là những chỉ số tổng hợp, trong trường hợp Châu Phi có nghĩa là khoảng 2 điểm thấp hơn trên đầu người. Có thể nói rằng, điều kiện cần thiết cho sự tiến bộ trong lĩnh vực này phải là hạn chế một cách cơ bản sự gia tăng dân số tự nhiên và tiếp tục cuộc chiến nhằm duy trì lâu dài nhịp độ tăng trưởng GDP trên đầu người trong khoảng 2,5 – 3,5%. Đấy là điều rất khó, nhưng vẫn có thể đạt được.

Các nước giàu có, đặc biệt là Mỹ phải giảm bớt độ năng động của nền kinh tế. Khó có thể tin rằng họ sẽ làm điều đó một cách tự nguyện, do đó cần có giải pháp buộc họ phải hành động như vậy. Điều đó diễn ra một cách nhẹ nhàng và từng bước, thông qua việc gây áp lực ngắn chặn nhịp độ sản xuất do duy trì mức giá cao cho những mặt hàng thiết yếu và việc khai thác một số nguyên liệu ngày càng trở nên khó khăn, hoặc là hanh chóng diễn lại cuộc đại khủng hoảng một cách triệt để. Có thể khai thác nhiều giải pháp, kể cả giải pháp cổ điển, tức là thông qua dây xích thích ứng tiêu cực của khu vực thực tế với khu vực tài chính không cân đối về cơ cấu. Tuy nhiên, khi đó chúng ta phải đối mặt với sự suy giảm tốc độ sản xuất, suy giảm sâu bao nhiêu – như thế nào? chưa ai biết – bằng việc gây chao đảo mức độ sản xuất và sụt giảm mức độ tuyệt đối của nó trước khi đạt được mức độ gia tăng chậm hơn mức hiện nay.

Việc giảm bớt nhịp độ ở quy mô nào cần phải kết hơp với việc từ bỏ một cách có ý thức một phần tích lũy tài chính. Thay vì đầu tư phần này tại thị trường nội địa hoặc tại các khu vực khác của nền kinh tế toàn cầu dưới dạng đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư chứng khoán, thì nên chuyển giao cho các nước nghèo tại Châu Phi, Nam và Trung Á và các nước ở Mỹ Latinh và ở vùng Caribean. Chuyển giao 0,7% GDP từ các nước giàu có cho các nước nghèo càng sớm càng tốt, để vấn đề này không còn là khẩu hiệu đầu lưỡi của chính thể quan liêu quốc tế và sớm trở thành công cụ của chiến lược phát triển toàn cầu. Điều này có lợi đối với các nước giàu, bởi sẽ giảm áp lực của dòng di cư những người cùng khổ của thế giới. Đơn giản là sẽ ngày càng ít đi.

Mặc dù có những cảnh báo một cách xác đáng trước hiện tượng sử dụng lãng phí viện trợ một phần nhỏ thu nhập của các nước giàu cho các nước nghèo, nhưng có một sự thật không thể bác bỏ là, nhờ có những khoản viện trợ này, mặc dù vẫn còn quá khiêm tốn, tình hình tại các quốc gia nhận viện trợ có được cải thiện. Đúng là các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã đạt được nhiều thành tựu trong cuộc chiến chống nghèo nàn và thoát khỏi tình trạng trì tệ, nhờ khai thác các khoản viện trợ ở mức thấp nhất, họ vươn lên là nhờ việc mở rộng trao đổi thương mại và năng động trong kinh doanh. Châu Phi chưa làm được như thế. Nhưng cũng đúng là sự tăng trưởng diễn ra trong thế hệ vừa qua tại các nước nghèo đạt gần 1 điểm phần trăm là do phần viện trợ trực tiếp của nước ngoài. Không có những khoản viện trợ này, tình trạng đói nghèo còn tồi tệ hơn nữa. Nếu như sự trợ giúp này nhiều hơn, thì sản xuất ở các nước này cũng cao hơn. Song điều đó đòi hỏi những biện pháp đặc biệt mang tính thể chế và chính sách nhằm phòng ngừa sự biển thủ tiền vốn viện trợ? Điều đó chúng ta đều biết. Cần phải triển khai những biện pháp thích hợp, bởi khoa học và kinh tế học phát triển biết được những biện pháp này dựa vào những gì? Chúng ta cũng biết rằng, tiền viện trợ không thể dùng vào việc nhập khẩu vũ khí (là xuất khẩu của một số nước khác), hoặc lại quay lại những quốc gia cung cấp “viện trợ” theo những kênh khác.

Nếu như thành công trong vài chục năm tới duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới ở mức thực tế xoay quanh con số trung bình 2%/năm (tính theo đầu người), thì đấy là một thành tựu lớn. Nếu như cố gắng đưa mức tăng trưởng của các nước nghèo nhích cao hơn mức bình quân thế giới và của các nước giàu thấp hơn chút ít – thì thành tựu còn to lớn hơn nữa. Kịch bản đó có xảy ra? Nó lệ thuộc vào những gì sẽ diễn ra tại những điểm được trải rộng ra nơi chân trời đang bao quanh chúng ta.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB Thế giới 2010.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s