Trong những năm đầu tiên sau chiến tranh, các cường quốc châu Âu quá bận tâm với sự xây dựng lại tiềm năng kinh tế của mình để có thể tham gia một cách quyết định vào sự phân bố bá quyền thế giới mà Mỹ và nước Nga Xô viết gán cho mình. Bị dồn vào qui chế những “nước được bảo hộ”, làm sao họ có thể chống lại nước “chị lớn” mà họ phải nhờ vào để có thể xây dựng lại quốc gia mình được?

Đó là thời hoàng kim của kẻ đế quốc, họ không cần phải thanh minh cho những hành vi trong khu vực ảnh hưởng hay “khu săn bắn dành riêng” của họ. Đó là thời kỳ mà các nước thuộc thế giới thứ ba bị ngăn cản trong việc thiết lập những liên hệ với những nước thuộc “phe kia”. Thời kỳ mà mỗi nước trong số đó rất thường khi bị cai quản bởi một kẻ độc tài với sứ mệnh thực sự duy nhất là thống trị nhân dân mình một cách có lợi cho “kẻ bảo hộ”. Thời kỳ mà các công ty đa quốc gia (hệ tư tưởng hay kinh tế) dùng sức mạnh để can thiệp, và đại diện của chúng ở nước “được bảo hộ” trên thực tế là người cầm quyền còn kẻ độc tài địa phương chỉ là người thừa hành.

Mặc dầu ở trong hoàn cảnh êm thấm ấy, bọn đế quốc đã chuẩn bị những vũ khí và công cụ cần thiết cho chúng trong tương lai. Theo một lối mà vào những thời khắc “Liên minh bảo vệ Kitô giáo” (hay Liên minh bảo vệ tính thuần khiết về chủng tộc) đã phải ngụy trang những ý đồ xấu xa của mình, còn bây giờ thì khắp thế giới đã nảy sinh những tổ chức, những ủy ban và những liên đoàn lấy chủ nghĩa chống cộng làm lá cờ chung.

Qua môi giới của OSS (Office of Strategic Services: Cơ quan tình báo Mỹ được lập ra trong Chiến tranh thế giới thứ hai) trước tiên, rồi của NIA (National Intelligences Authority: Cơ quan tình báo quốc gia), SSU (Strategic Services Unit: Đơn vị công tác chiến lược), CIG (Central Intelligence Group: Nhóm tình báo trung ương), CIA (Central Intelligence Agency: Cơ quan tình báo trung ương) do các cơ quan mật vụ khác nhau ấy đã thay thế OSS trong thời gian này mà Phong trào châu Âu, American Committee of United Europe (Ủy ban Mỹ về châu Âu thống nhất), Thanh niên châu Âu và cả một loạt những “ủy ban” Âu – Mỹ đã được lập ra.

Theo những điều chúng tôi nắm được, phong trào châu Âu hồi đó đã nhận được 3,8 triệu USD từ American Committee of United Europe (do CIA trả) và 3 triệu USD khác từ nhiều công ty và tổ chức của giới chủ. Về phía mình, Thanh niên châu Âu nhận được hơn 3 triệu USD (cũng vào những năm 1951/54).

Những kẻ chế tạo ra các công cụ đế quốc là các ông T. Braden (Giám đốc các vấn đề quốc tế của các cơ quan tình báo Mỹ kế tiếp nhau), Bedell Smith (của CIA), Maximilian Kohnstamm (cộng tác viên của hoàng tử Bernard ở Hà Lan), Allen Dulles (người tổ chức lại các cơ quan mật vụ Mỹ, người sáng lập ra CIA, luật sư của Lansky và Luciano, của Mafia, người bảo trợ vĩnh viễn của tướng Ghelen, người đứng đầu tình báo quốc xã trước đây và cũng là người sáng lập ra cơ quan phản gián “mới” của Đức), Thomas Dewen (nghị sĩ Mỹ, cựu thống đốc bang New York, luật sư và người sử dụng Mafia, “người phát minh” ra Richard Nixon, ông này trở thành phó tổng thống Mỹ bên cạnh Eisenhower dưới sự bảo trợ của T. Dewen và A. Dulles) H. Hughes (nhà tỷ phú đã nhận bao che cho một số hoạt động của CIA và Mafia, “người bảo trợ” của Nixon), Meyer Lanski (người đã biến Mafia thành một công ty đa quốc gia vô cùng rộng lớn, phục vụ cho CIA) và một nhân vật mà chúng tôi sẽ nói chi tiết dưới đây, ông Joseph H. Retinger.

Thế nhưng, đầu những năm 50, Mỹ nhận thấy thái độ bảo hộ và làm mưa làm gió của nó gây ra những sự tức giận ở châu Âu và do đó phải thay đổi chiến thuật: thay cho sự có mặt trực tiếp của Mỹ cần phải có một sự hiện diện kín đáo hơn nhưng vẫn hoàn toàn có tác dụng chi phối. sự “hiện diện” ấy sẽ là của các công ty đa quốc gia và những đồng minh của chúng ở châu Âu: các chính khách các nhà tài chính, các cơ quan mật vụ.

Năm 1952, sau một chuyến đi Mỹ, tổng thư ký Phong trào châu Âu, ông Retinger, trở về châu Âu thuyết giảng về “sự cần thiết phải lập ra một tổ chức quốc tế trong đó người Mỹ và người châu Âu gặp nhau để cải thiện những liên hệ giữa hai châu lục”.

Cuộc họp sáng lập diễn ra ở Paris, ở đó một ủy ban tổ chức đã được thành lập để đặt nền móng cho thể chế tương lai ấy. Những kẻ khởi xướng và những thành viên đầu tiên, ngoài những người khác, là hoàng tử Bernard của Hà Lan; ông Van Zeeland (chủ tịch Hiệp hội vì sự thống nhất châu Âu và bộ trưởng ngoại giao Bỉ), các ông John Colleman, W. Donnavan (giám đốc CIA), Bedell Smith (của CIA), Paul Rijkend (chủ tịch – tổng giám đốc Unilever), Guy Mollet và Antoine Pinay (các chính khách Pháp), Espiritu Santo và F. Nogueira (các nhà ngân hàng Bồ Đào Nha), N. Franco (em của nhà độc tài Tây Ban Nha), Herman Abs (nhà ngân hàng quốc xã cũ và nhà tài chính), Joseph Luns (nhà ngoại giao Hà Lan, cựu bộ trưởng Ngoại giao, tổng thư ký NATO hiện nay), Sosthene Behn (chủ tịch – tổng giám đốc TTT), Mertens (cựu đại tá quốc xã và nhà kinh doanh), Harald Quandt (nhà tài chính Đức và con của bà vợ thứ hai của Goebbels), Gunter F. Fahle (cựu giám đốc IG Farben, đã bị tòa án Nuremberg kết tội vì những tội ác chiến tranh, và là một trong những người lãnh đạo của Lockheed),…

Ngoài chủ nghĩa chống cộng thâm căn cố đế và triết lý thân Mỹ sâu sắc của họ có một điểm thống nhất nhiều nhân vật nói trên, những thành viên tương lai của Câu lạc bộ Bilderberg: phần lớn đó là những thành viên nổi bật của các hội quán Tam điểm theo nghi thức Scotland, chịu ảnh hưởng – để không nói là noi theo Bắc Mỹ và từ năm 1945, chúng ta thấy họ đã dính líu vào những hoạt động hết sức khác nhau của phái hữu. Đó là một nét đáng được chúng ta dừng lại để tìm hiểu hiện tượng chưa được công luận biết rõ mấy này.

Những hội viên Tam điểm Scotland, các cơ quan mật vụ, những nhà lãnh đạo chính trị, Mafia, chủ nghĩa phát xít trộn lẫn nhau trong cả một loạt những tổ chức chống cộng do CIA ở châu Âu đỡ đầu:

Liên minh hợp tác kinh tế châu Âu.

Phong trào châu Âu.

Trung tâm văn hóa châu Âu.

Hiệp hội quốc tế vì sự thống nhất châu Âu.

American Committee of United Europe (Ủy ban Mỹ về châu Âu thống nhất).

Trong tất cả các tổ chức mà danh sách của chúng còn chưa đầy đủ đó, chúng ta gặp thấy:

Allen Dulles, người sáng lập ra CIA (mà ông ta là giám đốc từ 1953 đến 1961), Hội viên Tam điểm theo nghi thức Scotland.

Retinger, cố vấn ngoại giao của người đứng đầu chính phủ Ba Lan lưu vong ở London, Thư ký Phong trào châu Âu, sau đó là Tổng thư ký Câu lạc bộ Bilderberg, Hội viên Tam điểm theo nghi thức Scotland.

Kohnstamm, cánh tay phải của hoàng tử Bernard, sau đó trở thành Tổng thư ký Câu lạc bộ Bilderberg, Hội viên Tam điểm theo nghi thức Scotland.

Donnavan, một giám đốc khác của CIA, Hội viên Tam điểm theo nghi thức Scotland.

Brosio, người Italy, Tổng thư ký NATO hồi đó, Hội viên Tam điểm theo nghi thức Scotland.

Martin, đại sứ Mỹ, Hội viên Tam điểm theo nghi thức Scotland.

Gigliotti, vụ trưởng châu Âu của CIA, nhân viên liên lạc giữa CIA và các nhóm “Phương Đông” khác nhau của Hội Tam điểm Scotland, Hội viên Tam điểm theo nghi thức Scotland.

La Guardia, thị trưởng New York, Hội viên Tam điểm theo nghi thức Scotland.

Certini, vị đại sứ của Đại phương Đông Italy.

Van Zeeland, bộ trưởng Ngoại giao Bỉ, bậc 33 của nghi thức Scotland.

Dewen, thống đốc bang New York, Hội viên Tam điểm theo nghi thức Scotland.

H. Truman, tổng thống Mỹ, Hội viên Tam điểm theo nghi thức Scotland.

G. Ford, tổng thống Mỹ, Hội viên Tam điểm theo nghi thức Scotland.

Gelli, vị thầy chân chính của hội quán P2 Đại phương Đông theo nghi thức Scotland.

Nhiều vị giám đốc của các công ty đa quốc gia cũng có mặt trong danh sách của các Hội quán khác nhau theo nghi thức ấy.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s