Những tác động chính trị

Những tác động của chiến tranh đến phản ứng chính trị trong nước giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ khác biệt đáng kể vì các điều kiện chính trị của hai nước này quá khác nhau. Nhóm tác giả giả sử rằng những điều kiện này vào năm 2025 về cơ bản sẽ vẫn giữ nguyên như năm 2015. Bản chất, quy mô và thời điểm của các tác động chính trị, nếu có, thậm chí còn khó dự đoán hơn những thiệt hại quân sự và phí tổn kinh tế. Liệu những tác động được mô tả dưới đây có diễn ra trong hoặc sâu một cuộc xung đột kéo dài 1 năm (khoảng thời gian được coi là một cuộc chiến lâu dài) hay không là không thể biết được, nhưng mặc dù vậy nó vẫn đáng để xem xét.

Trung Quốc là một nước độc đảng, và hiện đang có một người đứng đầu chính phủ đầy quyền lực. Nhà lãnh đạo đó đang làm việc để củng cố quyền kiểm soát dân sự đối với quân đội. Những bất đồng giữa các quan chức dân sự hàng đầu hoặc giữa họ với các lãnh đạo quân đội hoặc các nhân vật tinh hoa kinh tế là không đáng kể hoặc được che đậy kín đáo. Công luận, dù là một nguồn áp lực quan trọng và có thể là cái nôi bất đồng tiềm tàng, không là then chốt đối với sự tồn tại của chế độ: Tầng lớp trung lưu chủ yếu có tình cảm yêu nước, những người nghèo ở nông thôn không có tiếng nói, những công nhân nhà máy di cư không có tổ chức, và những người chống đối chỉ là thiểu số và quan tâm tới tự do chính trị hoặc tôn giáo hơn là chính sách đối ngoại. Tranh luận và phản kháng được nhà nước miễn cưỡng chấp nhận. Quyền tiếp cận thông tin có thể bị kiểm soát, tới một mức độ nào đó, do quyền truy cập Internet rộng rãi. Nhà nước và bộ máy an ninh nội bộ của nó có nhiều biện pháp để đàn áp phe đối lập và ý chí để sử dụng những biện pháp đó. Tuy nhiên, sự cam kết của Bắc Kinh đối với trật tự trong nước phản ánh nỗi lo sợ kiểu bất ổn mà Trung Quốc từng trải qua trong quá khứ và có thể một lần nữa nhấn chìm đất nước, đe dọa chế độ, và khiến Trung Quốc yếu ớt và dễ bị tổn thương.

Chính trị trong nước của Mỹ gần như ngược lại so với Trung Quốc. Hiện tại, chính trị Mỹ bị phân cực và chính phủ bị chia rẽ. Gần như bất kỳ vấn đề nào, thậm chí chiến tranh và hòa bình, đều có thể dẫn tới sự chỉ trích, sự cãi vã giữa hai đảng, và sự tê liệt một phần. Năng lực của tổng thống để đóng vai trò một tổng tư lệnh hiệu quả có thể bị suy yếu bởi sự chính trị hóa; phe đối lập có thể đến từ các phe cánh hòa bình, phe cánh chiến tranh, hoặc cả hai. Trừ phi an ninh của đất nước trực tiếp bị đe dọa, sự hỗ trợ toàn tâm toàn ý của công chúng nói chung và giới tinh hoa không thể được giả định, đặc biệt là sau những cuộc chiến tranh tốn kém với kết quả đáng thất vọng ở Iraq và Afghanistan. Các chính quyền Mỹ khăng khăng liều mạng tiến hành các cuộc chiến tranh không hợp lòng dân. Cả sự kiên nhẫn lẫn sự liên tục đều không thể được giả định, đặc biệt là với các cuộc bầu cử 2 năm một lần. Đồng thời, không có nghi ngờ gì về sự tồn tại của nhà nước trong trường hợp xảy ra chiến tranh với những thiệt hại và phí tổn lớn, giống như có thể xảy ra trong trường hợp của Trung Quốc.

Những phản ứng, kiềm chế và hệ quả chính trị ở hai nước có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nhận thức về những lợi ích của chiến tranh. Những vấn đề liên quan tới các tuyên bố lãnh thổ của Trung Quốc, những bất công về lịch sử, và quyền chủ quyền sẽ có điểm tựa vững chắc trong giới tinh hoa Trung Quốc và công chúng. Tuy vậy nhiều người Mỹ có thể coi những vấn đề như vậy là ngoại vi đối với lợi ích sống còn của Mỹ và không đáng giá một cuộc chiến tốn kém, trừ phi ban lãnh đọa thống nhất có thể thuyết phục họ theo hướng khác. Khi chiến sự tiếp diễn, những lợi ích ban đầu có thể bị thay đổi bởi việc cuộc chiến đang diễn biến ra sao về số người thương vong, tác động kinh tế, các cuộc tấn công vào dân thường, và sự giận dữ hoặc khiếp sợ của dân chúng, khiến cho chính trị  trong nước không ổn định và khó dự đoán.

Chính phủ Mỹ có thể trải qua những vấn đề chính trị “chiến thuật” nghiêm trọng (ví dụ sự phân cực giữa hai đảng và trong dân chúng) xuyên suốt cuộc xung đột, trong khi đó chính phủ Trung Quốc sẽ có ít những vấn đề như vậy và sức mạnh để quản lý chúng. Nhưng Trung Quốc có thể đối mặt với các vấn đề chính trị “chiến lược” mà chế độ phải đương đầu trong trường hợp xảy ra một cuộc xung đột lâu dài và khốc liệt. Động lực “tập hợp dưới cờ” của Trung Quốc ban đầu có thể mạnh hơn nhưng sau đó nhường chỗ cho những sự bất ổn mà Mỹ không phải đối mặt.

Tổng thống Mỹ có thể bị chỉ trích ngay từ đầu vì đã đưa đất nước tham gia một cuộc chiến tranh vì những lợi ích chưa đến mức sống còn. Những chỉ trích như vậy có thể được tăng cường bởi những thiệt hại đáng kể, đặc biệt là thương vong, trong chiến sự khốc liệt. Mặt khác, tổng thống có thể bị chỉ trích vì sự rụt rè nếu kiềm chế quân đội Mỹ để hạn chế các hoạt động thù địch và thiệt hại. Mặc dù quyền kiểm oát dân sự đối với quân đội sẽ không bị nghi ngờ, những căng thẳng có thể xuất hiện về sự quản lý vi mô của tổng thống, được thúc đẩy bởi những lo ngại về phí tổn. Trong khi có khả năng số thương vong ngày càng tăng có thể tập hợp sự ủng hộ của công chúng, đặc biệt nếu được xen vào đó những tình cảm chống Trung Quốc, cũng có khả năng rằng sự phản đối chiến tranh sẽ gia tăng. Phụ thuộc vào những lợi ích và những phản ứng trước những thiệt hại, một cuộc chiến lâu dài và khốc liệt có thể chia rẽ nước Mỹ và làm trầm trọng thêm những vấn đề về tinh thần đảng phái không thỏa hiệp và chính phủ hoạt động sai chức năng.

Trong khi những tiến bộ quân sự của Mỹ cho đến nay đã đem lại cơ hội chiến thắng một cuộc chiến một cách nhanh chóng và do đó tránh được những áp lực và cạm bẫy chính trị, điều này có thể ít có khả năng hơn trong tương lai. Tổng tư lệnh có thể rơi vào thế gọng kìm giữa logic quân sự giành chiến thắng trong cuộc chiến và logic chính trị – kinh tế kiềm chế phí tổn. Liệu chính trị trong nước của Mỹ có cho phép nước này tiến hành một cuộc chiến kéo dài, tốn kém và có thể không có kết quả với Trung Quốc hay không sẽ phụ thuộc một phần vào nguồn gốc của cuộc chiến và quyền lợi của Mỹ trong kết quả của nó. Lịch sử cho thấy – và Trung Quốc không nên bỏ qua – rằng Mỹ có khả năng chịu đựng chính trị đáng kể trong chiến tranh.

Sự hỗ trợ chính trị, quyền kiểm soát của nhà nước và sự ổn định ở cả hai nước  có thể cũng chịu các tác động của chiến tranh mạng, nếu như nó leo thang tới các lĩnh vực dân sự. Ở đây, Trung Quốc cũng có thể trở nên dễ bị tổn hại hơn tới chừng mực mà chính phủ Trung Quốc phụ thuộc nhiều hơn vào việc gây ảnh hưởng tới tình cảm của dân chúng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng Internet và các kênh truyền thông khác so với những gì chính phủ Mỹ làm hoặc có thể làm. Nếu năng lực của Bắc Kinh trong việc thao túng thông tin, duy trì ủng hộ và ngăn chặn hỗn loạn bị giảm sút, những ý kiến tự phát và đối lập có thể gây rối loạn một số bộ phận dân chúng.

Những căn thẳng trong hệ thống và sự gắn kết chính trị của Trung Quốc có thể kiểm soát được trong trường hợp xảy ra chiến sự cường độ nhẹ. Mạng xã hội có thể trao quyền cho phe đó lập ở một mức độ nào đó, tuy vậy khả năng của chế độ hạn chế và thao túng thông tin và kiềm chế bất đồng sẽ chiếm ưu thế. Một lựa chọn của chế độ nhằm giới hạn các hoạt động thù địch để tránh tổn thất lớn, các cuộc tấn công vào Trung Quốc và sự leo thang có thể tạo ra những lời phàn nàn trong quân đội nhưng không phải sự kháng cự rõ ràng. Giả sử rằng các nhà lãnh đạo và giới tinh hoa Trung Quốc có quan điểm rõ ràng về những lợi ích của cuộc xung đột (ví dụ như các vấn đề về chủ quyền và danh dự quốc gia), mọi sự phản đối trong công chúng sẽ không buộc chế độ phải ngừng chiến.

Tuy nhiên, chiến sự khốc liệt, nếu kéo dài, có thể tạo ra hỗn loạn chính trị trong nước và các lực lượng phân quyền. Mối nguy hiểm về sự bất ổn bắt nguồn từ sự phụ thuộc của tính hợp pháp của chế độ vào sự thịnh vượng kinh tế và lòng tự hào dân tộc; nếu tới mức cả ai bị rạn nứt bởi các thiệt hại và phí tổn chiến tranh, các bộ phận của xã hội (ví dụ như giới tinh hoa, trung lưu, công nhân và nông dân nghèo) có thể không ưa ban lãnh đạo nữa. Không chỉ vốn mà các nhà tư bản cũng có thể chạy khỏi nước này. Mặc dù tình trạng rối loạn trong nước có thể không gây nguy hiểm cho chế độ, nó có thể buộc chế độ phải thẳng tay đàn áp những bộ phận lớn trong công chúng giận dữ, làm suy yếu thêm tính hợp pháp của chế độ. Mối nguy hiểm của chủ nghĩa ly khai nằm ở cơ hội mà những phần tử ly khai ở Tây Tạng hay Tân Cương có thể nhận thấy nếu nhà nước bận tâm với một chiến nhiều tổn thất và đòi hỏi cao với Mỹ. Bởi số lượng đáng kể các lực lượng lục quân của PLA và các lực lượng an ninh trong nước khác được cho là sẽ vẫn có sẵn ngay cả trong trường hợp xảy ra một cuộc xung đột lớn với Mỹ, chế độ sẽ có thể trấn áp các phần tử ly khai, nhưng với phí tổn về nguồn lực và tính hợp pháp trong nước cũng như quốc tế trong thời điểm mà cả hai có thể đang còn thiếu.

Đặt những tác động chính trị có thể xảy ra của Mỹ và Trung Quốc cạnh nhau, dường như các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ đối mặt với ít sự chống đối trong nước trong một cuộc xung đột ngắn, bất chấp mức độ khốc liệt của nó, trong khi đó các nhà lãnh đạo Mỹ có thể đối mặt với sự chống đối kịch liệt, tinh thần đảng phái và sự phân cực ngay từ đầu. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể và sẵn sàng đàn áp sự chống đối trong nước. Trong khi sự hỗ trợ yêu nước có thể được giả định ở cả hai trường hợp, nó có thể nhiệt thành hơn ở Trung Quốc, đặc biệt là nếu phần lớn người Trung Quốc có quan điểm rõ ràng hơn phần lớn người Mỹ về những lợi ích quốc gia bị đe dọa trong cuộc xung đột. Tuy nhiên, trong trường xảy ra một cuộc xung đột kéo dài và tốn kém, Trung Quốc có thể đối mặt với biến động trong nước nghiêm trọng hơn so với Mỹ, điều có thể thúc đẩy Bắc Kinh tìm kiếm hòa bình.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s