Chế độ xã hội chủ nghĩa có tính ưu việt to lớn

Đồng chí Giang Trạch Dân chỉ rõ: “Thực tiễn chứng minh, chủ nghĩa xã hội là con đường đúng đắn dẫn dắt giai cấp vô sản và nhân dân lao động sống dưới ách áp bức bóc lột ở trên thế giới thay đổi vận mệnh của mình, đạt được giải phóng xã hội, xây dựng đời sống hạnh phúc”. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, giai cấp vô sản và quần chúng lao động chẳng những tránh được số phận hẩm hiu mà giai cấp vô sản và quần chúng lao động ở những nước sau khi giành được độc lập dân tộc đi lên con đường tư bản chủ nghĩa gặp phải mà còn được vươn mình giải phóng về mặt kinh tế và chính trị, từ đó làm thay đổi bộ mặt lạc hậu của nước mình bằng tư thế của người làm chủ với tinh thần sáng tạo từ trước tới nay chưa từng có trong lịch sử, mở ra kỷ nguyên mới của nhân loại đi tới đời sống hạnh phúc.

Lấy phát triển kinh tế làm ví dụ: Trước Cách mạng Tháng 10, Nga là một trong những nước có lực lượng sản xuất lạc hậu nhất ở Châu Âu. Sản lượng thép và sản lượng than năm 1910 chỉ có 3 triệu tấn và 2,5 triệu tấn, thấp hơn nhiều so với 10 triệu tấn và 270 triệu tấn của Anh, 15 triệu tấn và 150 tấn của Đức, so với Mỹ lại càng lạc hậu hơn. Nhưng, từ năm 1928 – 1938 chỉ trong thời gian của hai kế hoạch 5 năm, sản lượng ngành chế tạo của Liên Xô đã tăng hơn 7,5 lần, nhảy vọng lên đứng hàng thứ hai thế giới chi sau Mỹ. Còn nền kinh tế Mỹ trong thời kỳ này lại khủng hoảng nghiêm trọng. Chiến tranh thế giới thứ 2 làm cho nền kinh tế Liên Xô bị tổn thất to lớn, còn Mỹ thì lại phát tài lớn trong chiến tranh. Nhưng, sự phát triển của nền kinh tế Liên Xô sau chiến tranh luôn luôn nhanh hơn Mỹ. Từ năm 1951 – 1982, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Liên Xô cao hơn Mỹ 1 – 2 lần. Nhờ tốc độ phát triển của Liên Xô nhanh hơn Mỹ trong thời gian dài, làm cho khoảng cách thực lực kinh tế giữa Liên Xô và Mỹ ngày càng rút ngắn. Năm 1950, tổng giá trị sản lượng công nghiệp của Liên Xô chưa bằng 30% của Mỹ; năm 1980 đã đạt trên 80%; thu nhập quốc dân của Liên Xô năm 1950 chỉ bằng 31% của Mỹ, năm 1980 đã đạt tới 67%. Sản lượng của rất nhiều sản phẩm quan trọng như đầu máy xe lửa, dầu, sắt, thép… đã lần lượt vượt Mỹ. Về các mặt khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục và lực lượng quân sự, rất nhiều lĩnh vực Liên Xô đều có ưu thế hoặc tương đương Mỹ. Chẳng hạn vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người chính là do Liên Xô chế tạo và phóng lên vũ trụ.

Nước Trung Hoa mới xã hội chủ nghĩa cũng sáng tạo ra tốc độ phát triển kinh người. Mọi người đều biết, trong thời gian 30 năm từ 1951 đến 1980, công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc đã phạm phải sai lầm, kể cả sai lầm có tính chất toàn cục như “đại cách mạng văn hóa”. Mặc dù vậy, giá trị sản lượng công nghiệp của Trung Quốc mỗi năm vẫn tăng trưởng bình quân 12,5%, mà cùng thời kỳ này của Mỹ là 4, CHLB Đức là 5,8%, Pháp là 5%, Anh là 2,3%, Nhật Bản tuy tương đối cao, đạt tới 11,5% nhưng vẫn thấp hơn Trung Quốc. Tăng trưởng bình quân /năm giá trị sản lượng nông nghiệp Trung Quốc là 4%, mà cùng thời kỳ này Pháp chỉ có 2,5%, Anh là 2,3%, CHLB Đức là 1,9%, Mỹ chỉ có 1,6%. Chỉ trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Trung Quốc đã đầu tư xây dựng 156 hạng mục công nghiệp loại lớn. Giá trị tổng sản lượng xã hội tính theo giá có thể so sánh bình quân hàng năm tăng 11,3%, trong đó tổng giá trị sản lượng công nghiệp bình quân mỗi năm tăng 18%, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp bình quân mỗi năm tăng 4,5%. Sự mạnh bạo xây dựng, tốc độ tăng trưởng và thành tựu phát triển như thế không thể nào tượng tượng nổi ở nước Trung Hoa cũ. Theo tư liệu thống kê có liên quan, từ năm 1961 đến 1985, tốc độ tăng trưởng bình quân năm về thu nhập quốc dân, giá trị sản lượng công nghiệp, nông nghiệp của các nước xã hội chủ nghĩa đều cao hơn các nước phát triển 48,6%, 81,6% và 105%. Năng suất lao động công nghiệp giữ vững tốc độ tăng trưởng cao. Nếu lấy năm 1960 làm cơ số, năng suất lao động công nghiệp của các nước xã hội chủ nghĩa đến năm 1985 đại để tăng trưởng 3 – 4 lần, còn tốc độ tăng trưởng của các nước tư bản chủ nghĩa chủ yếu trong cùng thời kỳ khoảng 2 – 2,5 lần. Nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc dân của các nước xã hội chủ nghĩa cao hơn các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, làm cho khoảng cách kinh tế giữa hai loại nước dần dần thu hẹp. Trong thời gian 30 năm từ năm 1955 đến năm 1985, tỷ trọng của các nước xã hội chủ nghĩa trong giá trị sản lượng công nghiệp thế giới đã tăng từ 30% lên 40% giá trị sản lượng giá trị công nghiệp tính theo đầu người từ mức bình quân thấp của thế giới trở thành cao hơn mức bình quân của thế giới. Nhìn vào mức thu nhập quốc dân, tổng thu nhập quốc dân của các nước xã hội chủ nghĩa trong năm 1985 chiế 1/3 tổng thu nhập quốc dân của thế giới, mức thu nhập quốc dân tính theo đầu người cao hơn mức bình quân của thế giới.

Các nước xã hội chủ nghĩa không dựa vào tước đoạt thuộc địa, mua bán nô lệ da đen, bóc lột nông dân, áp bức công nhân để tích lũy vốn xây dựng, vậy tại sao về tốc độ phát triển lại cao hơn các nước tư bản phát triển? Nguyên nhân căn bản là ở chỗ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trước hết, chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa thích ứng yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất xã hội tiên tiến. Một chế độ xã hội có ưu việt hay không, có sức sống hay không, quy cho cùng phải xem nó có thích ứng yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất xã hội tiên tiến hay không, có thúc đẩy phát triển không ngừng lực lượng sản xuất xã hội hay không. Chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa lấy chế độ công hữu làm chủ thể là sự phủ định biện chứng tích cực đối với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nó chẳng những loại bỏ sự tách rời giữa người lao động và tư liệu sản xuất và bóc lột giai cấp, thực hiện sự thống nhất giữa người lao động và tư liệu sản xuất, mà còn xóa bỏ mâu thuẫn giữa hai trạng thái trong chế độ tư bản chủ nghĩa: có tổ chức sản xuất trong nội bộ xí nghiệp và vô chính phủ của toàn bộ nền sản xuất xã hội có thể thực hiện quản lý vĩ mô có kế hoạch đối với nền kinh tế quốc dân, thực hiện cả nước từ trên xuống dưới là một bàn cờ, tập trung lực lượng làm những việc lớn, động viên và tổ chức nhân dân cả ước sáng tạo nên thành tích vĩ đại. Thứ đến, chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa đại biểu cho lợi ích cơ bản của người lao động. Trong xã hội cũ, đông đảo nhân dân lao động sáng tạo ra của cải cho xã hội, sáng tạo ra lịch sử, nhưng lại ở địa vị bị áp bức, bị bức hại. Còn chế độ chính thể về cơ bản đã thay đổi vận mệnh chính trị của nhân dân lao động. Nền chuyên chính dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy liên minh công nông làm nền tảng đã bảo đảm địa vị làm chủ của nhân dân lao động, bảo đảm bình đẳng giữa người và người, giữa dân tộc với dân tộc; Đảng và Nhà nước thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, sáng tạo ra cục diện chính trị vừa có dân chủ lại có tập trung, vừa có ý chí thống nhất lại có sinh động hoạt bát, tâm tình thoải mái của mỗi cá nhân; các chế độ pháp luật xã hội chủ nghĩa bảo đảm các quyền lợi dân chủ cho mỗi công dân… Đúng như báo cáo tại Đại hội 15 của Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ rõ: “Đảng Cộng sản nắm chính quyền tức là lãnh đạo và ủng hộ nhân dân nắm quyền lực quản lý Nhà nước, thực hiện bầu cử dân chủ, quyết sách dân chủ, quản lý dân chủ và giám sát dân chủ, bảo đảm cho nhân dân được hưởng quyền lợi và tự do rộng rãi theo pháp luật, tôn trọng và bảo vệ nhân quyền”. Trong chế độ chính trị như vậy, con người – nhân tố năng động nhất trong lực lượng lao động nhờ được giải phóng tất nhiên sẽ sản xuất và xây dựng bằng tinh thần tích cực và tinh thần sáng tạo từ trước tới nay chưa từng có. Thứ nữa, văn hóa xã hội chủ nghĩa đại biểu cho phương hướng tiến lên của nền văn hóa tiên tiến của xã hội. Một nền văn hóa nhất định là sự phản ánh của một nền kinh tế và chính trị nhất định và phục vụ cho một nền kinh tế và chính trị nhất định. Chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa lấy chế độ công hữu làm chủ thể và chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa mà hạt nhân là nhân dân làm chủ đã quyết định tính chất tiên tiến của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng lấy chủ nghĩa Marx làm chỉ đạo, lấy việc đào tạo những công dân có lý tưởng, có đạo đức, có văn hóa, có kỷ luật làm mục tiêu, hướng tới hiện đại hóa, hướng ra thế giới và hướng tới tương lai. Nó dốc sức vào việc hình thành nên lý tưởng và trụ cột tinh thần chung trong toàn xã hội, không ngừng thỏa mãn nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng tăng của quảng đại quần chúng nhân dân, nâng cao toàn diện tố chất tư tưởng, đạo đức và trình độ khoa học văn hóa của toàn dân tộc, nhờ đó trở thành lực lượng trọng yếu quy tụ và khích lệ quần chúng cho nhân dân, tạo ra động lực tinh thần và sự ủng hộ về trí tuệ mạnh mẽ cho việc phát triển kinh tế và cho sự tiến bộ toàn diện của xã hội. Ưu thế về kinh tế, chính trị, văn hóa đó của chủ nghĩa tư bản vĩnh viễn không bao giờ có thể có.

Chế độ xã hội chủ nghĩa có năng lực tự hoàn thiện, đổi mới và phát triển

Là một chế độ xã hội mới mẻ, chủ nghĩa xã hội còn ở thời kỳ bước đầu của thực tiễn và phát triển. Chúng ta nói có tính ưu việt và sức sống mà chủ nghĩa tư bản không thể nào so sánh, điều đó không có nghĩa là nói chế độ xã hội chủ nghĩa vừa mới được xây dựng là đã rất hoàn thiện, cũng không có nghĩa là trong quá trình củng cố và phát triển nó sẽ không nẩy sinh vấn đề và khó khăn. Sở dĩ chế độ xã hội chủ nghĩa có sức sống mãnh liệt chính là nhờ năng lực tự hoàn thiện và phát triển của nó. Nói cho cùng tự hoàn thiện và phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa là vấn đề đổi mới cơ chế. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mâu thuẫn cơ bản của xã hội loài người. Nhưng, mâu thuẫn có tính chất khác nhau và phương thức giải quyết khác nhau trong các chế độ xã hội khác nhau. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, vì tư liệu sản xuất do tư nhân chiếm hữu, mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất xã hội là có tính chất đối kháng. Phương thức cuối cùng giải quyết mâu thuẫn này chỉ có thể là lật đổ toàn bộ chế độ tư bản chủ nghĩa. Còn trong xã hội xã hội chủ nghĩa, mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất xã hội không có tính chất đối kháng, hoàn toàn có thể giải quyết trong phạm vi chế độ xã hội chủ nghĩa. Cải cách là con đường cơ bản và động lực để chế độ xã hội chủ nghĩa tự hoàn thiện và phát triển. Sở dĩ chủ nghĩa xã hội có thể thông qua cải cách để không ngừng hoàn thiện và phát triển chính là nhờ nó kiên trì lấy chế độ công hữu làm chủ thể. Biểu hiện tập trung nhất của cơ sở kinh tế này là trong lĩnh vực thượng tầng kiến trúc là những người cộng sản cầm quyền không có bất cứ lợi ích đặc thù nào của riêng mình. Đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc, thực tiễn của hơn 50 năm qua chứng minh, trước sau nó đại biểu cho yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, đại biểu cho phương hướng tiến lên của nền văn hóa tiên tiến, đại biểu cho lợi ích căn bản của quảng đại nhân dân Trung Quốc. Tính chất và tôn chỉ đó của Đảng Cộng sản được đồng chí Giang Trạch Dân khái quát một cách khoa học thành tư tưởng quan trọng “Ba đại biểu”. “Ba đại biểu” đó thể hiện toàn diện bản chất của chủ nghĩa xã hội và tính tiên phong của Đảng. Do vậy, người cộng sản có thể vượt qua mọi giới hạn của người tư hữu, với tinh thần cách mạng tiến thủ mãnh liệt, tầm nhìn rộng lớn hướng tới tương lai và hoài bão lớn để xử lý thực tiễn của chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện thể chế: tốt hơn, có lợi hơn thì lựa chọn; lỗi thời không thích hợp thì vứt bỏ; chưa hoàn thiện, chưa chín muồi thì áp dụng mọi biện pháp làm cho nó hoàn thiện và chín muồi. Năng lực bỏ điều hại làm điều lợi, nhả cũ nạp mới này chính là động lực bên trong của công cuộc cải cách, chính là động lực bên trong để cho chế độ xã hội chủ nghĩa phát triển không ngừng, chính là nguồn gốc chính trị để cho chủ nghĩa xã hội có sức sống mãnh liệt.

(còn tiếp) 

Người dịch: Trần Thanh Hà

Nguồn: TN 2000 – 105

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s